Tin nổi bật

Áp dụng IFRS tại Việt Nam: Sẽ tạo bước ngoặt lớn cho lĩnh vực “Tài chính – Kế toán”

///Áp dụng IFRS tại Việt Nam: Sẽ tạo bước ngoặt lớn cho lĩnh vực “Tài chính – Kế toán”
Diễn đàn Công nghệ Tin học Mobile

Áp dụng IFRS tại Việt Nam: Sẽ tạo bước ngoặt lớn cho lĩnh vực “Tài chính – Kế toán”

Mới đây, Bộ Tài chính đã tổ chức hội thảo xin ý kiến rộng rãi của các bên liên quan nhằm hoàn thiện dự thảo Đề án “Áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) vào Việt Nam”. Đây là một Đề án được đánh giá rất phức tạp về mặt kỹ thuật và có phạm vi ảnh hưởng rộng. Ông Vũ Đức Chính, Cục Trưởng, Cục Quản lý Giám sát Kế toán – Kiểm toán (Bộ Tài chính) đã có những chia sẻ xung quanh vấn đề này.
?Xin ông cho biết, dựa vào những cơ sở nào để Bộ Tài chính xây dựng Đề án “Áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) vào Việt Nam”?

Ông Vũ Đức Chính: Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, lĩnh vực kế toán không còn là vấn đề mang tính nội tại, riêng biệt của từng quốc gia. Vì vậy, để phù hợp với yêu cầu đa dạng của doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư, các quốc gia thường cho phép các doanh nghiệp lựa chọn Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) hoặc IFRS khi lập và trình bày báo cáo tài chính. Theo tài liệu của Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), tính đến hiện tại, đã có 131/143 quốc gia và vùng lãnh thổ (chiếm tỷ lệ 93% các nước được IASB khảo sát) đã tuyên bố về việc cho phép áp dụng IFRS dưới các hình thức khác nhau.

P:\Nam 2019\2. TIN BAI\PHONG BAO CHI\10. Tran Thi Phuong Lan\Thang 3\4-3 Bai PV A Chinh\Anh Chinh.JPG

Ông Vũ Đức Chính, Cục Trưởng, Cục Quản lý Giám sát Kế toán – Kiểm toánphát biểu tại Hội thảo “Thực trạng, kinh nghiệm quốc tế và lộ trình áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) vào Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội ngày 22/2/2019

Tại Việt Nam, trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2005, Bộ Tài chính đã ban hành 26 Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) trên cơ sở hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế, phù hợp điều kiện của Việt Nam trong giai đoạn đó. Sau hơn 10 năm áp dụng, VAS đã góp phần to lớn trong việc nâng cao tính minh bạch, trung thực của báo cáo tài chính để cung cấp những thông tin chất lượng cho người sử dụng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, VAS đã bộc lộ nhiều hạn chế, chưa phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường trong giai đoạn mới, đặc biệt, khi thị trường vốn phát triển mạnh mẽ, xuất hiện nhiều loại công cụ tài chính phức tạp,… dẫn đến thông tin báo cáo tài chính thiếu minh bạch, giảm niềm tin của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Ngày 18/3/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 480/QĐ- TTg phê duyệt Chiến lược kế toán – kiểm toán đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Theo đó, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính cập nhật hệ thống chuẩn mực kế toán theo hướng phù hợp với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), đặc biệt là các chuẩn mực kế toán của nền kinh tế thị trường phát triển và gắn liền với đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Đây cũng là yêu cầu được đề cập tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở nhiệm vụ được giao, ngày 23/5/2017, Bộ Tài chính đã thành lập Ban Chỉ đạo và Ban soạn thảo “Đềán áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế vào Việt Nam” theo Quyết định số 918/QĐ-BTC. Theo đó, Bộ Tài chính đã nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng IFRS của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới và tiến hành khảo sát nhu cầu áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp Việt Nam, nghiên cứu sự khác biệt giữa IFRS với chuẩn mực kế toán Việt Nam, chính sách thuế, cơ chế tài chính,…
Bộ Tài chính đang hoàn thiện dự thảo Đề án “Áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) vào Việt Nam”. Sau khi lấy ý kiến các Bộ, ngành, tổ chức nghề nghiệp về kế toán kiểm toán, doanh nghiệp và các đối tượng khác có liên quan, Bộ Tài chính sẽ hoàn thiện các thủ tục pháp lý để trình Chính phủ xem xét, phê duyệt Đề án trong năm 2019.
?Ông đánh giá như thế nào về lợi ích của việc áp dụng IFRS đối với Việt Nam?
Ông Vũ Đức Chính: Việc áp dụng IFRS tại Việt Nam sẽ đem lại những lợi ích về chất lượng Báo cáo tài chính (BCTC); Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút dòng vốn đầu tư, trong nước và trực tiếp nước ngoài về Việt Nam…
Các lợi ích của việc áp dụng chuẩn mực IFRS có thể được phân tích rõ hơn như sau:
Thứ nhất, chất lượng BCTC của doanh nghiệp sẽ được cải thiện một cách rõ rệt thông qua việc nâng cao trách nhiệm giải trình, tăng cường tính minh bạch và khả năng so sánh, cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho người sử dụng báo cáo để đưa ra các quyết định quản lý, điều hành và đầu tư.
Thứ hai, BCTC của doanh nghiệp Việt Nam có thể so sánh được với các doanh nghiệp khác trên thế giới. Đồng thời, do IFRS được thừa nhận và áp dụng rộng rãi nên sẽ giúp người sử dụng BCTC có thể so sánh tình hình và kết quả tài chính của các doanh nghiệp giữa các quốc gia khác nhau một cách dễ dàng hơn do BCTC của các công ty được lập dựa trên cùng một hệ thống chuẩn mực nên giúp các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội thuận lợi hơn trong việc huy động vốn trên thị trường quốc tế.
Thứ ba, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực kế toán, tài chính tạo điều kiện cho việc xuất khẩu lao động có chuyên môn hoặc cung cấp dịch vụ kế toán qua biên giới của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài.
Thứ tư, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nên sẽ có cơ hội gia tăng mạnh mẽ số lượng các công ty đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam do các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam sẽ giảm bớt chi phí cho việc chuyển đổi báo cáo tài chính được lập theo chuẩn mực kế toán Việt Nam sang báo cáo tài chính theo IFRS để hợp nhất với công ty mẹ ở nước ngoài.
Thứ năm, giúp các tổ chức quốc tế có thêm căn cứ để công nhận kinh tế thị trường của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hoạt động đàm phán quốc tế về kinh tế, tài chính.
Thứ sáu, tạo thuận lợi trong công tác đánh giá, quản lý, giám sát tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và các đối tượng liên quan.
?Thưa ông, Việt Nam sẽ gặp phải những khó khăn, thách thức gì khi áp dụng IFRS ?
Ông Vũ Đức Chính: Theo nhiều ý kiến đánh giá, khi áp dụng IFRS, Việt Nam sẽ gặp phải những khó khăn nhất định.
Thị trường vốn, thị trường tài chính chưa phát triển đủ mạnh nên việc cung cấp thông tin để xác định giá trị hợp lý của một số loại tài sản, nợ phải trả, đặc biệt là một số công cụ tài chính như trái phiếu chuyển đổi, công cụ phái sinh, cổ phiếu ưu đãi,… có thể bị hạn chế hoặc gặp khó khăn.
Nguồn nhân lực nhìn chung chưa được đào tạo về IFRS, thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc thực hành IFRS, đại bộ phận kế toán viên đều chưa được đào tạo về IFRS nên sự sẵn sàng áp dụng IFRS còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp có tâm lý ngại thay đổi.
Do IFRS yêu cầu một số kỹ thuật phức tạp và thực hiện một số đánh giá mang tính chủ quan, như việc thực hiện các ước tính về giá trị hợp lý khi không có giá niêm yết trên thị trường, giá trị có thể thu hồi, tổn thất tài sản của đơn vị tạo tiền và lợi thế thương mại, xác định giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai… Trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa có đủ năng lực và trình độ, nếu không có một thời gian chuẩn bị thì việc áp dụng IFRS sẽ rất khó thành công.
Ngoài ra, IFRS được soạn thảo bằng tiếng Anh nên rào cản ngôn ngữ cũng là một khó khăn và thách thức lớn.Để có thể phổ biến, quảng bá rộng rãi IFRS đến công chúng, IFRS cần phải được dịch nguyên mẫu từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Tuy nhiên việc chuyển tải chính xác các thuật ngữ chuyên môn không phải là điều dễ dàng vì người có đủ trình độ ngoại ngữ lại chưa chắc có đủ trình độ chuyên môn và ngược lại. Mặt khác, khi xảy ra tranh chấp giữa doanh nghiệp và kiểm toán, thanh tra…, rào cản ngôn ngữ sẽ là một trong những nguyên nhân gây tranh cãi nhiều nhất.
Một vấn đề nữa là việc xác định thu nhập chịu thuế của cơ quan thuế có thể trở nên phức tạp do khoảng cách giữa thu nhập chịu thuế và lợi nhuận kế toán có thể khác biệt khi doanh nghiệp lập BCTC theo IFRS.
?Xin ông cho biết, khi áp dụng IFRS tại Việt Nam Bộ Tài chính đưa ra các mục tiêu gì?
Ông Vũ Đức Chính: Để đáp ứng yêu cầu quản lý của nền kinh tế trong giai đoạn mới, đặc biệt là chủ trương đẩy mạnh hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán của Chính phủ. Bộ Tài chính đặt các mục tiêu tổng quát khi xây dựng Đề án.
Một là, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tài chính, kế toán; tạo dựng công cụ quản lý hiệu lực, hiệu quả cho công tác quản trị, điều hành tại doanh nghiệp cũng như việc quản lý, giám sát của cơ quan chức năng Nhà nước trong giai đoạn mới, góp phần thực hiện thành công trong các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Hai là, thúc đẩy sự hội nhập của nền kinh tế với khu vực và thế giới, góp phần nâng cao tính minh bạch của các thông tin tài chính hữu ích, nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp, bảo vệ môi trường kinh doanh, nhà đầu tư, góp phần tạo điều kiện để Việt Nam được công nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ, nâng hạng thị trường chứng khoán, thu hút dòng vốn FDI.
Với mục tiêu cụ thể, việc hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán, Bộ Tài chính xây dựng phương án, xác định rõ đối tượng, phạm vi, hình thức áp dụng và lộ trình triển khai đối với các đơn vị phù hợp và hiệu quả. Khi đó có 3 nhóm doanh nghiệp như sau:
Nhóm 1, các doanh nghiệp thuộc đối tượng được lựa chọn, áp dụng IFRS. Các doanh nghiệp được lựa chọn là các doanh nghiệp có quy mô lớn, có đủ năng lực và có nhu cầu áp dụng IFRS.
Nhóm 2, các doanh nghiệp không thuộc nhóm 1 và 3, áp dụng chuẩn mực kế toán doanh nghiệp Việt Nam được xây dựng trên cơ sở cập nhật hệ thống 26 chuẩn mực hiện nay.
Nhóm 3, các doanh nghiệp có quy mô rất nhỏ, thực hiện chế độ kế toán theo hướng đơn giản hơn.
?Sau khi Đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam được Chính phủ phê duyệt, Ông có những kiến nghị, đề xuất gì trong công tác phối hợp, thưa Ông?
Ông Vũ Đức Chính: Đây là một đề án rất phức tạp về mặt kỹ thuật, có phạm vi rộng, vì vậy Bộ Tài chính mong nhận được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Chính phủ, của các Bộ ngành, địa phương về quan điểm định hướng và mục tiêu thực hiện. Bên cạnh đó, tạo điều kiện cho Bộ Tài chính các nguồn lực cần thiết để triển khai, hoàn thành Đề án khi đưa vào áp dụng tại Việt Nam.
Cần có sự phối hợp giữa các Bộ, ngành các địa phương, các doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, hội nghề nghiệp, các chuyên gia về kế toán trong việc thực hiện các nội dung về xây dựng và triển khai Đề án theo lộ trình được phê duyệt.

Xin cảm ơn Ông!

Trích nguồn

PL

2019-03-05T14:27:18+00:0005 - 03 - 2019|