TIN NỔI BẬT
Sau cú giải nén cuối 2025, bất động sản TP.HCM bước vào năm bản lề 2026Triển vọng tín nhiệm 2026: Ổn định trong phân hóa, định hình chu kỳ vốn thận trọng mớiĐồng bộ thể chế, nguồn lực cho phát triển hạ tầng chiến lượcLãi suất lên cao, dòng tiền dịch chuyển: Áp lực dồn về người vayLãi suất và bài toán cân bằng thị trường bất động sảnBất động sản sắp có mã định danh: Thị trường sẽ thay đổi ra sao?Ngân hàng Nhà nước tăng tốc hút ròng, giao dịch trái phiếu Chính phủ tăng mạnh trên thị trường thứ cấpThống nhất thủ tục thanh toán vốn đầu tư công cho chương trình mục tiêu quốc giaLãi suất tiết kiệm ngân hàng nào cao nhất tháng 1/2026?Săn tìm cổ phiếu mùa báo cáo kết quả kinh doanhTừ biến động giá vật liệu xây dựng đến áp lực ổn định thị trường bất động sảnHà Nội gần như không còn nguồn cung nhà ở dưới 55 triệu đồng/m2Ưu đãi thuế tiếp sức kinh tế tư nhân, mở lối cho hộ kinh doanh “lớn lên”CPA VIETNAM tham dự Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2026 của Hiệp hội Kế toán và Kiểm toán Việt NamDoanh nghiệp hiến kế tăng cung, mở rộng cơ hội mua nhà cho người dânNguồn cung năm 2025 đã tiệm cận “đỉnh” nguồn cung của thị trường đã được thiết lập trước đó, giá bất động sản vì thế đã có tín hiệu giảm. Tuy nhiên, thị trường vẫn chưa hoàn toàn được “giải khát.Giá bất động sản sẽ không tăng “nóng”, nhưng khó giảm?Cán cân thương mại thâm hụt hơn 3,2 tỷ USD ngay đầu nămNghị định số 20/2026/NĐ-CP mở rộng dư địa cho bất động sản khu công nghiệpVĩ mô ổn định, kỷ luật thị trường định hình chu kỳ mới của thị trường vốn Việt Nam

Kính thưa Bộ Tài Chính – Tổng cục thuế tôi là doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hà nội. Ngành nghề kinh doanh bán buôn thực phẩm, vốn chủ sở hữu 1,9 tỷ, năm 2020 chúng tôi vay vốn ngân hàng để kinh doanh tổng giá trị các khoản vay trên BCTC tại thời điểm kết thúc năm 31/12/2020 là 6,4 tỷ trong đó 6 tỷ là vay ngắn hạn 0,4 tỷ vay trung hạn(mua ô tô chở hàng theo hình thức trả góp).Ngày 05 tháng 11 năm 2020, Chính phủ có ban hành nghị định số 132/20 20/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết (có hiệu lực thi hành từ ngày 20/12/2020). + Tại Khoản 2 điều 1 quy định phạm vi điều chỉnh: “Điều 1. Phạm vi điều chỉnh …2. Các giao dịch liên kết thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí giữa các bên có quan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giáTại điều 5 quy định các bên có quan hệ liên kết: “1. Các bên có quan hệ liên kết (sau đây viết tắt là “bên liên kết”) là các bên có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp: a) Một bên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào bên kia; b) Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư của một bên khác. 2. Các bên liên kết tại khoản 1 điều này được quy định cụ thể như sau: …d) Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự) với điều kiện khoản vốn vay ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay;” Căn cứ vào các quy định được trích dẫn ở trên và nhu cầu sử dụng vốn lưu động ngắn hạn và trung hạn vay từ ngân hàng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chúng tôi kính đề nghị Bộ tài chính giải đáp giúp quan hệ của doanh nghiệp và ngân hàng có nằm trong đối tượng áp dụng điểm d khoản 2 điều 5 của nghị định số 132/2020/NĐ-CP hay không? và khoản chiểm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay là những khoản nào. Kính mong Bộ Tài Chính hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp.

– Căn cứ Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 của Chính phủ quy định:

 “1. Các bên có liên kết quan hệ (sau đây viết tắt là“ bên liên kết ”) là các bên có mối quan hệ thuộc một trong các trường hợp:

 a) Một bên tham gia trực tiếp hoặc đơn giản tiếp tục vào công việc điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư vào bên kia;

b) Các bên trực tiếp hay gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn hoặc đầu tư của một bên khác.

2. Các bên liên kết tại khoản 1 điều này được quy định cụ thể như sau:

d) Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm tất cả các khoản vay từ bên thứ ba được bảo đảm từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có  bản chất tương tự) với vốn điều kiện vay ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung hạn và dài hạn của doanh nghiệp đi vay;

…”

Căn cứ quy định nêu trên:

Căn cứ quy định trên, trường hợp Công ty của Độc giả đi vay phát sinh khoản vốn vay chiếm ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu và chiếm trên 50% tổng giá trị cá khoản nợ trung và dài hạn thì Công ty của Độc giả thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định số 132/2020/NĐ-CP.

Đề nghị Độc giả căn cứ các quy định của pháp luật được trích dẫn nêu trên và đối chiếu với thực tế kinh doanh để thực hiện đúng quy định.

Trường hợp còn vướng mắc về chính sách thuế, đề nghị Độc giả liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được giải đáp cụ thể.