TIN NỔI BẬT
Phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ góp phần kiểm soát lạm phátChi lương tiền mặt trên 5 triệu đồng không được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệpCổ phiếu chứng khoán trước chu kỳ tăng trưởng margin 2026Nhiều quỹ trái phiếu có hiệu suất tới 7,5%, vượt lãi gửi tiết kiệmĐề xuất bỏ thẩm định giá lại đối với dự án điều chỉnh 1/500, đã hoàn thành nghĩa vụ tài chínhCông bố 277 doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026Nhân viên Lái xe (Làm việc tại Hà Nội)6 đơn vị không đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026INFOGRAPHIC: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2025Các ngân hàng có thể tăng trưởng tới 20% trong năm 2026Ngân hàng dự kiến siết chặt tiêu chí tài sản bảo đảm và xếp hạng tín nhiệmQuý 4/2025 xác lập kỷ lục mới về nguồn cung căn hộ tại Hà Nội và TP.Hồ Chí MinhNgân hàng Nhà nước yêu cầu gửi báo cáo trạng thái vàng hàng ngày trước 14 giờ hôm sauGiao dịch điều chỉnh nhẹ về khối lượng, giá trị vẫn được duy trìLãi suất liên ngân hàng giảm sâu sau một tuầnTinh gọn thủ tục, liên thông dữ liệu trong lĩnh vực tài chínhBộ Tài chính yêu cầu triển khai đồng bộ giải pháp ổn định giá dịp Tết Bính Ngọ 2026Thị trường bất động sản sôi động dịp cuối nămNgười hành nghề chứng khoán phải tập huấn kiến thức hằng nămDự báo lợi nhuận ngân hàng năm 2025: Chất lượng quyết định "cuộc chơi"

Kính gửi Bộ Tài Chính! Công ty chúng tôi đã gửi câu hỏi liên quan đến vốn hóa chi phí lãi vay (mã câu hỏi: 260521-13) và nhận được câu trả lời từ Quý Cơ quan ngày 25/6/2021. Tuy nhiên chúng tôi thấy rằng câu trả lời này đang không nhất quán với các công văn cũng như căn cứ pháp lý khác bao gồm: (1) Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 : “Doanh nghiệp không được vốn hóa chí phí lãi vay để mua máy móc thiết bị mới và đưa ngay vào sử dụng”. (2) CV số 12568/BTC-CĐKT ngày 9/9/2015 về việc Giải thích nôi dung Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 trong đó có đề cập: "Đối với khoản vay riêng phục vụ việc xây dựng TSCĐ, BĐSĐT, lãi vay được vốn hóa kể cả khi thời gian xây dựng dưới 12 tháng”. Thông lệ quốc tế không quy định cụ thể về thời gian đối với việc xây dựng tài sản dở dang là trên hay dưới 12 tháng nên để đảm bảo phản ánh đúng bản chất và phù hợp với thông lệ quốc tế là TSCĐ, BĐSĐT thường không phải là các tài sản sản xuất hàng loạt như hàng tồn kho. Vì vậy Thông tư 200 quy định vốn hóa kể cả khi thời gian xây dựng của tài sản dưới 12 tháng " Công ty chúng tôi hiểu rằng trường hợp của chúng tôi đang đúng như các công văn hướng dẫn trong đó các máy móc thiết bị mua về KHÔNG THỂ SỬ DỤNG ĐƯỢC NGAY phải trả qua quá trình lắp đặt chạy thử nghiệm thu thậm chí phải thuê một bên thứ 3 chuyên nghiệp để lắp đặt trong vòng 2 tháng. Trong các quy định trên, không có quy định về việc chi phí lắp đặt không phải là quá trình đầu tư xây dựng. Do đó, căn cứ vào thư trả lời chúng tôi hiểu rằng phải trên 12 tháng mới được vốn hóa là không hợp lý. Kính mong Bộ Tài Chính xem xét lại và sớm có hướng dẫn để Công ty chúng tôi có thể tuân thủ theo đúng quy định. Xin chân thành cảm ơn!

Theo quy định tại các đoạn 07, 08 chuẩn mực kế toán Việt Nam số 16 – Chi phí đi vay (VAS 16) quy định doanh nghiệp chỉ được vốn hóa chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang. Trong đó tài sản dở dang là những tài sản đang trong quá trình đầu tư xây dựng và tài sản đang trong quá trình sản xuất cần một thời gian đủ dài (trên 12 tháng) để có thể đưa vào sử dụng theo mục đích định trước hoặc để bán. Điểm d1 khoản 1 Điều 35 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 về hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp (Thông tư 200) quy định: “Chi phí lãi vay phát sinh khi mua sắm tài sản cố định đã hoàn thiện (TSCĐ sử dụng được ngay mà không cần qua quá trình đầu tư xây dựng) không được vốn hóa vào nguyên giá TSCĐ” . Theo quy định tại Điều 46 Thông tư 200, Tài khoản 241 – Xây dựng cơ bản dở dang, có 3 tài khoản cấp 2 là 2411, 2412, 2413. Trong đó, Tài khoản 2411 – Mua sắm TSCĐ: Phản ánh chi phí mua sắm TSCĐ và tình hình quyết toán chi phí mua sắm TSCĐ trong trường hợp phải qua lắp đặt, chạy thử trước khi đưa vào sử dụng (kể cả mua TSCĐ mới hoặc đã qua sử dụng). Nếu mua sắm TSCĐ về phải đầu tư, trang bị thêm mới sử dụng được thì mọi chi phí mua sắm, trang bị thêm cũng được phản ánh vào tài khoản này. Điểm g Khoản 1 Điều 54 Thông tư 200 quy định: “Việc xác định chi phí lãi vay được vốn hóa phải tuân thủ Chuẩn mực kế toán “Chi phí đi vay”. Việc vốn hóa lãi vay trong một số trường hợp cụ thể như sau: Đối với khoản vay riêng phục vụ việc xây dựng TSCĐ, BĐSĐT, lãi vay được vốn hóa kể cả khi thời gian xây dựng dưới 12 tháng”. Như vậy, chế độ kế toán hiện hành và chuẩn mực kế toán đã có quy định cụ thể về việc vốn hóa chi phí lãi vay đối với các trường hợp đầu tư xây dựng TSCĐ, BĐSĐT, sản xuất tài sản dở dang hoặc mua[...]

Kính gửi: Bộ Tài chính, Tôi hiện công tác tại Sở TNMT Bình Thuận, hiện nay tôi đang vướng mắc về hạch toán kế toán cho Ban QLDA của Sở. ( Ban QLDA được Sở TNMT thành lập có con dấu và tài khoản riêng nhưng hạch toán phụ thuộc) 1/ Trước đây, khi thực hiện theo quyết định 19/2006/QĐ-BTC thì chi phí quản lý dự án của BQLDA được hạch toán vào TK 4621, TK 6621 nhưng nay theo TT 107/2017/TT-BTC thì không còn TK 4621, TK 6621 thì đơn vị sẽ hạch toán vào TK nào để theo dõi chi phí hoạt động của BQLDA. Do đó, Năm 2018-2019 BQLDA áp dụng theo TT195/2012/TT-BTC có đúng không ạ. 2/ Hiện nay, đã có TT 79/2019/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán áp dụng cho ban QLDA sử dụng vốn đầu tư công thì Ban QLDA của Sở có thể áp dụng để thực hiện được không hay vận dụng các tài khoản của TT 79/2019/TT-BTC để hạch toán kế toán trên cùng hệ thống sổ kế toán của chủ đầu tư- Sở TBNMT theo TT 107/2017/TT-BTC ( Ban QLDA được Sở TNMT thành lập có con dấu và tài khoản riêng nhưng hạch toán phụ thuộc). Theo TT 79/2019/TT-BTC, tôi thấy thể hiện đầy đủ các tài khoản để hạch toán chi phí hoạt động cho Ban LQDA mà TT107/2017 không có. 3/ Để thuận tiện cho việc báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thì Ban QLDA của Sở có thể lập BCTC, BCQT riêng theo TT 79/2019/TT-BTC và gửi lên Sở TNMT- chủ đầu tư để Sở TNMT tổng hợp báo cáo chung của ngành được không ạ.

Nội dung thư độc giả hỏi về việc áp dụng chế độ kế toán đối với Ban Quản lý dự án hạch toán phụ thuộc. Về vấn đề này Cục Quản lý giám sát Kế toán, Kiểm toán- Bộ Tài chính có ý kiến như sau: 1. Theo nội dung nêu trong thư của độc giả, Ban QLDA thuộc Sở Tài nguyên và môi trường (chủ đầu tư) là đơn vị hạch toán phụ thuộc, theo đó các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến Ban QLDA được phản ánh vào hệ thống sổ sách kế toán của Sở TNMT (Văn phòng Sở) để lập báo cáo tài chính theo quy định. Theo đó, năm 2018, 2019, đơn vị phải thực hiện chế độ kế toán hành chính sự nghiệp theo Thông tư số 107/2017/TT-BTC (Áp dụng từ ngày 01/01/2018). 2.  Điều 2 Thông tư 79/2019/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán áp dụng cho ban quản lý dự án sử dụng vốn đầu tư công (áp dụng cho năm tài chính 2020 trở đi) quy định: “Điều 2. Đối tượng áp dụng 1. Đối tượng áp dụng:(a) Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực …; (b) Ban quản lý dự án do chủ đầu tư thành lập….; 2. Trường hợp chủ đầu tư là đơn vị hành chính, sự nghiệp không thành lập ban quản lý dự án riêng, đơn vị hạch toán trên cùng hệ thống sổ kế toán của đơn vị theo hướng dẫn của Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành theo Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính. Trường hợp cần thiết đơn vị được sử dụng các tài khoản và hướng dẫn có liên quan được ban hành tại Thông tư này để hạch toán các khoản liên quan đến quản lý dự án đầu tư.” Căn cứ các quy định trên, Sở Tài nguyên và môi trường là đơn vị chủ đầu tư không thành lập ban quản lý dự án riêng, trong trường hợp cần thiết, đơn vị được sử dụng các tài khoản tại Thông tư 79/2019/TT-BTC để hạch toán các khoản liên quan đến quản lý dự án đầu tư. 3. Về lập báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán: a. Về báo cáo tài chính: Khoản 1 Điều 3 Luật kế toán 2015 quy[...]

Thông tư số 92/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định: "Các công trình có mức vốn dưới 500 triệu đồng: Các cơ quan, đơn vị tổng hợp chung trong báo cáo quyết toán hàng năm theo quy định tại Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán hành chính sự nghiệp và Thông tư số 01/2007/TT-BTC ngày 02/01/2007 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn xét duyệt, thẩm định và thông báo quyết toán năm đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức được ngân sách Nhà nước hỗ trợ và ngân sách các cấp".

Theo tôi hiểu, các công trình sửa chữa, bảo dưỡng, nâng cấp có giá trị dưới 500 triệu đồng thì không thực hiện thẩm tra quyết toán riêng mà chỉ thực hiện tổng hợp chung vào báo cáo quyết toán hàng năm.

Tuy nhiên, Phòng Tài chính – Kế hoạch tại huyện tôi vẫn thực hiện thẩm tra và thu phí thẩm tra quyết toán. Cho tôi hỏi, Phòng Tài chính – Kế hoạch thực hiện như vậy là đúng hay sai?

Bộ Tài chính trả lời vấn đề này như sau: Tại Điểm a Khoản 4 Điều 39 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng quy định: Đối với trường hợp sửa chữa công trình, thiết bị có chi phí dưới 500 triệu đồng từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước thì chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình tự quyết định về kế hoạch sửa chữa với các nội dung sau: Tên bộ phận công trình hoặc thiết bị cần sửa chữa, thay thế; lý do sửa chữa hoặc thay thế, mục tiêu sửa chữa hoặc thay thế; khối lượng công việc; dự kiến chi phí, dự kiến thời gian thực hiện và thời gian hoàn thành. Tại Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 92/2017/TT-BTC ngày 18/9/2017 của Bộ Tài chính quy định về lập dự toán, phân bổ và quyết toán kinh phí để thực hiện sửa chữa, bảo trì, cải tạo, nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất quy định: Các công trình có mức vốn dưới 500 triệu đồng: Các cơ quan, đơn vị tổng hợp chung trong báo cáo quyết toán hàng năm theo quy định tại Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (được thay thế bởi Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2007 về chế độ kế toán hành chính sự nghiệp) và Thông tư số 01/2007/TT-BTC ngày 2/1/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn xét duyệt, thẩm định và thông báo quyết toán năm đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức được ngân sách Nhà nước hỗ trợ và ngân sách các cấp (được thay thế bởi Thông tư số 137/2017/TT-BTC ngày 25/12/2017 của Bộ Tài chính quy định xét duyệt, thẩm định, thông báo và tổng hợp quyết toán năm).

Kính gửi Bộ Tài chính Tôi có câu hỏi như sau.Trong thông tư 107/2017/TT-BTC có hướng dẫn bút toán: Vay tiền mua TSCĐ, đầu tư cơ sở hạ tầng để nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp hoặc để dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ hạch toán như sau Nợ Tk 211, 241 Có TK 3382. Đề nghị bộ hướng dẫn chi tiết hơn cho tôi bút toán tính khấu hao tài sản trong trường hợp sử dụng tài sản mua từ nguồn vốn vay và theo Thông tư 45/2018/TT-BTC thì khoản trích khấu hao này sẽ được dùng để trả nợ vay? Thì sẽ hạch toán như thế nào a Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Nội dung thư độc giả hỏi về bút toán hạch toán khấu hao tài sản cố định trong trường hợp sử dụng tài sản mua từ nguồn vốn vay và hạch toán khoản trích khấu hao dùng trả nợ vay theo quy định chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành theo Thông tư 107/2017/TT-BTC. Về vấn đề này Cục Quản lý giám sát Kế toán, Kiểm toán- Bộ Tài chính có ý kiến như sau: 1. Theo Phụ lục số 02, Thông tư 107/2017/TT-BTC về chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, khấu hao TSCĐ được hạch toán vào chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của đơn vị, căn cứ vào thực tế tài sản sử dụng cho hoạt động nào thì khấu hao của tài sản được hạch toán vào tài khoản chi phí tương ứng với hoạt động đó, bút toán hạch toán khấu hao TSCĐ không căn cứ vào nguồn hình thành tài sản, ghi: Nợ TK 154 (tài sản sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ) Nợ TK 642 (tài sản sử dụng cho hoạt động quản lý sản xuất kinh doanh, dịch vụ)                    Có TK 214- Khấu hao và hao mòn lũy kế TSCĐ 2. Theo quy định tại Khoản 5, Điều 16, Thông tư 45/2018/TT-BTC: Trường hợp tài sản cố định được đầu tư, mua sắm từ nguồn vốn vay, vốn huy động thì số tiền trích khấu hao tài sản cố định được sử dụng để trả nợ gốc và lãi; số còn lại (nếu có) được bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị (đơn vị sự nghiệp công lập). Theo đó căn cứ doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong năm đối với các hoạt động có sử dụng tài sản hình thành từ nguồn vốn vay, đơn vị tính toán luồng tiền thu được để ưu tiên trả nợ gốc và lãi theo quy định, bút toán trả nợ vay: Nợ TK 338 (3382), 154, 642,…                    Có TK 111, 112

Kính gửi Bộ Tài chính! Đơn vị tôi là đơn vị Tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư. Tôi đang hạch toán khấu hao TSCĐ theo thông tư 107/207/TT-BTC và theo hướng dẫn của Bộ Tài chính như sau: Căn cứ quy định tại Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23/8/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phí và lệ phí, Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành theo Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính đã hướng dẫn: TK 6143- Chi phí khấu hao TSCĐ phản ánh chi phí về khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động thu phí, lệ phí; Vì vậy trong trường hợp của đơn vị TSCĐ phục vụ cho việc thu phí, lệ phí được đầu tư mua sắm từ nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, khi trích khấu hao hạch toán như sau: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động thu phí, ghi : Nợ TK 614 (6143)/Có TK 214 Cuối năm, đơn vị kết chuyển số khấu hao đã trích trong năm của TSCĐ hình thành bằng quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, ghi: Nợ TK 431 (43142)/ Có TK 431 (43141) Trong hệ thống mục lục ngân sách nhà nước không có tiểu mục khấu hao tài sản cố định. Xin Bộ Tài chính hướng dẫn hạch toán khấu hao tài sản cố định vào mục, tiểu mục nào?

Nội dung thư độc giả hỏi về hạch toán mục lục ngân sách đối với bút toán khấu hao tài sản cố định phục vụ thu phí, lệ phí. Về vấn đề này Cục Quản lý giám sát Kế toán, Kiểm toán- Bộ Tài chính có ý kiến như sau: 1. Theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, hệ thống mục lục ngân sách nhà nước áp dụng trong công tác lập dự toán; quyết định, phân bổ, giao dự toán; chấp hành, kế toán, quyết toán các khoản thu, chi ngân sách nhà nước. 2. Khấu hao TSCĐ: Theo quy định tại Khoản 9, Điều 2, Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định “Khấu hao tài sản cố định là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian trích khấu hao của tài sản cố định”. Như vậy khấu hao là việc chuyển dịch giá trị của tài sản vào giá thành của sản phẩm, dịch vụ. Việc trích khấu hao TSCĐ nhằm tính đủ chi phí về tài sản để thu hồi lại giá trị TSCĐ đã sử dụng thông qua giá bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ, theo đó khấu hao không phải là khoản chi bằng tiền, như vậy không phải khoản chi cần được hạch toán theo mục lục ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Công ty tôi hoạt động trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh các dự án bất động sản. Thời gian gần đây, công ty tôi tham gia đấu giá một số khu đất trên cả nước. Tuy nhiên, tôi nhận thấy, việc xác định giá khởi điểm đấu giá đất giữa các tỉnh không thống nhất.

Có tỉnh xác định giá khởi điểm dựa trên phần diện tích tính theo mật độ xây dựng của dự án, còn lại các công trình như đường, cầu cống, công viên cây xanh… sử dụng vào mục đích chung thì không tính tiền đấu giá; có tỉnh lại xác định giá khởi điểm dựa trên toàn bộ diện tích khu đất.

Theo ý kiến của ông Lâm, trên thực tế, nhà đầu tư chỉ có thể sử dụng phần diện tích tính trên mật độ xây dựng (được duyệt) để sử dụng vào mục đích kinh doanh, khai thác dự án, không thể sử dụng toàn bộ diện tích khu đất, nên việc xác định giá khởi điểm dựa trên toàn bộ diện tích khu đất là bất hợp lý, gây khó khăn cho nhà đầu tư khi tham gia đấu giá.

Ông Lâm hỏi, căn cứ xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất thế nào là đúng?

Tại Khoản 1 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Căn cứ tính tiền sử dụng đất là diện tích đất được giao, mục đích sử dụng đất và giá đất; căn cứ tính tiền thuê đất là diện tích đất cho thuê, thời hạn cho thuê đất, đơn giá thuê đất và hình thức Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê. Trong đó, giá đất làm căn cứ để tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất là giá đất trúng đấu giá, đơn giá trúng đấu giá. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 5; Khoản 1 Điều 38; Khoản 1 Điều 58 Luật Đấu giá tài sản, giá khởi điểm là giá ban đầu thấp nhất của tài sản đấu giá trong trường hợp đấu giá theo phương thức trả lên giá; giá ban đầu cao nhất của tài sản đấu giá trong trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống. Người có tài sản đấu giá phải công khai giá khởi điểm. Trên cơ sở giá khởi điểm nêu trên, tổ chức, cá nhân đủ điều kiện tham gia đấu giá đăng ký tham gia đấu giá thông qua việc nộp hồ sơ tham gia đấu giá hợp lệ và tiền đặt trước cho tổ chức đấu giá tài sản. Việc đăng ký tham gia hay không đăng ký tham gia đấu giá thuộc quyền tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện. Nội dung ông phản ánh về diện tích đất phải nộp/không phải nộp tiền sử dụng đất, giá đất cụ thể để xác định giá khởi điểm thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tài nguyên và môi trường, vì vậy đề nghị ông phản ánh với Bộ Tài nguyên và Môi trường về các nội dung nêu trên để được hướng dẫn, giải đáp cụ thể.