TIN NỔI BẬT
Đề xuất bỏ thẩm định giá lại đối với dự án điều chỉnh 1/500, đã hoàn thành nghĩa vụ tài chínhCông bố 277 doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026Nhân viên Lái xe (Làm việc tại Hà Nội)6 đơn vị không đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026INFOGRAPHIC: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2025Các ngân hàng có thể tăng trưởng tới 20% trong năm 2026Ngân hàng dự kiến siết chặt tiêu chí tài sản bảo đảm và xếp hạng tín nhiệmQuý 4/2025 xác lập kỷ lục mới về nguồn cung căn hộ tại Hà Nội và TP.Hồ Chí MinhNgân hàng Nhà nước yêu cầu gửi báo cáo trạng thái vàng hàng ngày trước 14 giờ hôm sauGiao dịch điều chỉnh nhẹ về khối lượng, giá trị vẫn được duy trìLãi suất liên ngân hàng giảm sâu sau một tuầnTinh gọn thủ tục, liên thông dữ liệu trong lĩnh vực tài chínhBộ Tài chính yêu cầu triển khai đồng bộ giải pháp ổn định giá dịp Tết Bính Ngọ 2026Thị trường bất động sản sôi động dịp cuối nămNgười hành nghề chứng khoán phải tập huấn kiến thức hằng nămDự báo lợi nhuận ngân hàng năm 2025: Chất lượng quyết định "cuộc chơi"Thêm ngân hàng triển khai giải pháp số hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi, thực hiện nghĩa vụ thuếLoạt chính sách đất đai mới có hiệu lực từ 2026: Người dân hưởng lợi, doanh nghiệp gỡ khóCPA VIETNAM tổ chức Tổng kết hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026CPA VIETNAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2026
Điểm lại thông tin kinh tế tuần từ 12-16/7.

Thêm một tuần giao dịch nữa thị trường chứng khoán diễn biến tiêu cực với VN-Index đi xuống. Theo đó, kết thúc phiên giao dịch cuối cùng của tuần từ 12-16/07, VN-Index đứng ở mức 1.299,31 điểm, tương ứng giảm 48,83 điểm (-3,55%) so với tuần trước đó.

Kính gửi Bộ Tài chính: Hiện nay em đang làm việc tại Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh (Ban QLDA nhóm II), xin Bộ hướng dẫn nội dung sau: Khi lập dự toán thu chi hàng năm của Ban theo thông tư 72/TT-BTC và thông tư 06/TT-BTC thì: Mục tiền lương sẽ lập theo lương ngạch bậc, chức vụ do nhà nước quy định, tuy nhiên số người để lập quỹ lương thì theo biên chế được giao hay số cán bộ hiện có của đơn vị (Biên chế của đơn vị là 55, hiện có 46 cán bộ do trong năm có một số cán bộ về hưu và chuyển công tác chưa kịp tuyển dụng thêm) Kính mong Bộ Tài chính sớm hướng dẫn, em xin cảm ơn.

–  Tại khoản 10, Điều 1 Thông tư số 06/2019/TT-BTC ngày 28/01/2019 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 72/2017/TT-BTC ngày 17/7/2017 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước đã sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 17 như sau: “Chi thường xuyên, gồm: Tiền lương; tiền công trả cho lao động theo hợp đồng; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp theo lương; …… Nội dung các khoản chi, định mức chi thường xuyên phải phù hợp với quy định tại Điều 11, Điều 16 Thông tư số 72/2017/TT-BTC, khoản 5, khoản 6 Điều 1 Thông tư này và phải được quy định tại Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị. Trích khấu hao tài sản cố định thực hiện theo quy định hiện hành.” – Tại khoản 1 Điều 11 Thông tư số 72/2017/TT-BTC ngày 17/7/2017 của Bộ Tài chính quy định: “1. Chi tiền lương: a) Lương ngạch, bậc theo quỹ lương được giao; lương theo hợp đồng lao động đối với các cá nhân được hưởng lương từ dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền và quy định hiện hành của Nhà nước về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. – Tại biểu mẫu số 05/DT-QLDA kèm theo Thông tư số 06/2019/TT-BTC ngày 28/01/2019 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 72/2017/TT-BTC quy định lập dự toán quản lý dự án năm bao gồm tiền lương và tiền công và biểu số 03/DT-QLDA kèm theo Thông tư số 72/2017/TT-BTC vể bảng tính lương đã quy định rõ dự toán bảng tính lương năm của đơn vị bao gồm: cán bộ hưởng lương từ dự án, cán bộ hưởng lương hợp đồng quản lý dự án và cán bộ kiêm nhiệm quản lý dự án (nếu có). Như vậy, căn cứ các quy định trên dự toán mục chi tiền lương lập theo lương ngạch bậc, chức vụ của số cán bộ hiện có hưởng lương từ dự án và cán bộ hưởng lương theo hợp đồng lao động quản lý dự[...]

Kính gửi Bộ Tài chính! Đơn vị tôi có vướng mắc như sau: 1. Theo Thông tư số 146/2011/TT-BTC ngày 26/10/2011: “Biên lai thu tiền được dùng làm chứng từ ghi thu các khoản đóng góp của nhân dân khi Uỷ ban nhân dân xã hoặc các cơ quan thu được cấp có thẩm quyền cho phép đứng ra huy động nhân dân đóng góp và các khoản thu khác không phải là khoản thu về thuế”. Tuy nhiên, theo Thông tư số 70/2019/TT-BTC ngày 03/10/2019 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ kế toán và tài chính ngân sách xã thay thế Thông tư 146/2011/TT-BTC, có hiệu lực 01/01/2020 quy định: "Biên lai thu tiền được dùng làm chứng từ ghi thu các khoản đóng góp của nhân dân khi Ủy ban nhân dân xã hoặc các cơ quan thu được cấp có thẩm quyền cho phép đứng ra huy động nhân dân đóng góp". Như vậy, theo Thông tư 70/2019/TT-BTC thì đối với các khoản thu khác không phải là khoản thu về thuế xã, phường có được phép sử dụng biên lai C27-X để phản ánh thu không? 2. Về việc thu tiền ủng hộ bão lụt và ủng hộ Covid-19, quỹ Vắc xin Covid-19 của các mạnh thường quân nộp về xã, phường, kính mong Bộ Tài chính hướng dẫn xã, phường có được phép sử dụng biên lai thu tiền C27-X để phản ánh thu hay không? Trong trường hợp không được phép thì địa phương phải dùng chứng từ nào để phản ánh thu. 3. Tại phụ lục, chỗ phương pháp ghi biên lai: "Trường hợp đơn vị không tự in thì khi nhận hoặc mua biên lai của cơ quan Tài chính về phải lập Phiếu nhập kho…" và nội dung thanh toán biên lai: "Xã hoặc cơ quan thu phải thanh toán với cơ quan Tài chính về số biên lai đã nhận, số đã sử dụng, số biên lai hỏng, số tiền đã thu, đã nộp". Như vậy, trong trường hợp xã, phường tự in thì có phải thanh quyết toán biên lai (đối chiếu biên lai) với Phòng Tài chính – Kế hoạch quận về số biên lai đã, số biên lai hỏng, số tiền đã thu, đã nộp không? Tôi rất mong được Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn đối với việc sử dụng biên lai theo TT70/2019/TT-BTC.Trân trọng cảm ơn./.

1. Mục 1, Phần III, Phụ lục số 1, Thông tư số 70/2019/TT-BTC ngày 03/10/2019 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã quy định: “Biên lai thu tiền là chứng từ kế toán của đơn vị thu xác nhận với người nộp về số tiền đã nộp và làm căn cứ để lập phiếu thu, nộp tiền vào quỹ hoặc nộp tiền thẳng vào Kho bạc. Biên lai thu tiền làm chứng từ ghi thu các khoản đóng góp của nhân dân khi UBND xã hoặc cơ quan thu được cấp có thẩm quyền cho phép đứng ra huy động nhân dân đóng góp”. Theo đó, các khoản thu đóng góp tự nguyện khác không phải là khoản thu về thuế (trừ khoản thu của Quỹ vì người nghèo theo quy  định của Thông tư số 103/2018/TT-BTC) thì xã, phường có thể sử dụng biên lai thu tiền (mẫu số C27-X) ban hành theo Thông tư số 70/2019/TT-BTC. 2. Theo quy định của Thông tư số 70/2019/TT-BTC thì mẫu “Biên lai thu tiền” thuộc danh mục chứng từ hướng dẫn. Theo quy định tại khoản 2, Điều 3, Thông tư số 70/2019/TT-BTC thì “Đối với các chứng từ hướng dẫn (ký hiệu HD) trong quá trình thực hiện, các xã được phép sửa đổi, bổ sung biểu mẫu chứng từ phù hợp với nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh”. Theo quy định mục 2, phần III, Phụ  lục số 1, Thông tư số 70/2019/TT-BTC, thì các đơn vị có thể tự in hoặc nhận hoặc mua biên lai in sẵn về để ghi thu các khoản đóng góp của nhân dân khi Ủy ban nhân dân xã hoặc các cơ quan thu được cấp có thẩm quyền cho phép đứng ra huy động nhân dân đóng góp. Trường hợp đơn vị tự in thì không phải đối chiếu biên lai với với phòng Tài chính- Kế hoạch quận về số biên lai đã nhận, số đã sử dụng, số biên lai hỏng. Tuy nhiên đơn vị chịu trách nhiệm thu đúng, đủ các khoản đóng góp của nhân dân và báo cáo về số tiền đã thu, đã nộp khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Quỹ Đầu tư phát triển địa phương (Quỹ ĐTPT) trước đây hoạt động theo Nghị định 138/2007/NĐ-CP và Nghị định 37/2013/NĐ-CP, nay được thay thế bởi Nghị định 147/2020/NĐ-CP.

Về quy định các biện pháp xử lý rủi ro trong hoạt động cho vay của Quỹ ĐTPT địa phương, Nghị định 147/2020/NĐ-CP không quy định biện pháp khoanh nợ, xóa nợ gốc như Nghị định 138/2007/NĐ-CP và Nghị định 37/2013/NĐ-CP trước đây.

Vậy, khi sửa đổi điều lệ tổ chức hoạt động của Quỹ và ban hành quy chế xử lý rủi ro cho vay, quỹ có được phép quy định 02 biện pháp này vào điều lệ, quy chế không? Dựa trên văn bản pháp lý nào, hay vận dụng văn bản pháp lý nào để quy định 02 biện pháp xử lý rủi ro này vào trong điều lệ, quy chế? Nếu được phép quy định thì thẩm quyền quyết định như thế nào?

Theo quy định tại Nghị định số 147/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương (Điều 30): "- Quỹ đầu tư phát triển địa phương (Quỹ ĐTPTĐP) thực hiện phân loại nợ, trích lập quỹ dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro trong hoạt động cho vay theo quy định của pháp luật đối với ngân hàng thương mại. – Quỹ ĐTPTĐP xây dựng quy chế xử lý rủi ro và trình Hội đồng quản lý Quỹ ban hành sau khi có ý kiến chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quy chế xử lý rủi ro bao gồm các nội dung cơ bản sau: nguyên tắc xử lý rủi ro; các trường hợp, biện pháp xử lý rủi ro; hồ sơ, trình tự thủ tục sử dụng dự phòng rủi ro; quy trình xử lý rủi ro và thẩm quyền quyết định xử lý rủi ro." Căn cứ quy định nêu trên, Quỹ ĐTPTĐP có trách nhiệm xây dựng quy chế xử lý rủi ro theo quy định tại Nghị định số 147/2020/NĐ-CP và quy định của pháp luật đối với ngân hàng thương mại, trình Hội đồng quản lý Quỹ ban hành sau khi có ý kiến chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Đề nghị Quỹ ĐTPTĐP thực hiện theo quy định của pháp luật.

Tôi có vướng mắc gửi đến Quý Bộ, kính mong được giải đáp như sau: Đơn vị tôi là trường học công lập, có khoản thu chi thỏa thuận với người học theo hướng dẫn của Sở giáo dục và khoản thu chi kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho học sinh. Đơn vị đã thực hiện hạch toán như sau: Khi thu: Nợ 111, 112/Có 3381 Khi chi: Nợ TK 3381/Có TK 111, 112 Số dư cuối kỳ của các khoản thu trên thể hiện trong Báo cáo tình hình tài chính theo thông tư 107 (Biểu B01/BCTC) tại chỉ tiêu Tiền (mã số 01) và chỉ tiêu Nợ phải trả khác (mã số 68). Khi gửi Báo cáo tài chính nhà nước cho kho bạc, Cơ quan kho bạc trả lại với lý do từ chối là: Chỉ tiêu nợ phải trả khác (mã số 68) trên biểu B01/BCTC của các đơn vị trường học phải bằng 0. Xin hỏi Kho bạc Nhà nước từ chối báo cáo với lý do trên có đúng không ạ? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nội dung thư độc giả hỏi về số liệu trình bày trên chỉ tiêu Nợ phải trả khác (mã số 68) trên báo cáo tình hình tài chính (mẫu B01/BCTC) theo quy định chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành theo Thông tư 107/2017/TT-BTC. Về vấn đề này, Cục Quản lý, giám sát kế toán, kiểm toán – Bộ Tài chính có ý kiến như sau: Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành theo Thông tư 107/2017/TT-BTC quy định các đơn vị hành chính sự nghiệp phải lập báo cáo tài chính vào cuối kỳ kế toán năm gồm báo cáo tình hình tài chính, báo cáo kết quả hoạt động, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính. Trong đó, biểu mẫu báo cáo tình hình tài chính (mẫu B01/BCTC) quy định chỉ tiêu Nợ phải trả khác (mã số 68) phản ánh số dư các khoản nợ phải trả khác tại ngày lập báo cáo tài chính, bao gồm các khoản phải nộp theo lương; khoản đơn vị còn phải nộp nhà nước; các khoản đơn vị còn phải thanh toán cho người lao động của đơn vị; các khoản thu hộ, chi hộ; doanh thu nhận trước; khoản nhận đặt cọc, ký quỹ, ký cược và khoản nợ phải trả khác chưa được phản ánh trên một chỉ tiêu cụ thể của Báo cáo tình hình tài chính. Số liệu ghi vào chỉ tiêu này là số dư Có của các tài khoản: ….; TK 3381 “Các khoản thu hộ, chi hộ”; TK 3388 “Phải trả khác”; …. Theo đó, trường hợp cuối kỳ TK 338 “Phải trả khác” của đơn vị có số dư, sẽ được trình bày vào số liệu trên chỉ tiêu Nợ phải trả khác (mã số 68) trên báo cáo tình hình tài chính (mẫu B01/BCTC), không có quy định về việc chỉ tiêu này trên báo cáo phải bằng không (0).

Kính gửi Bộ Tài chính. Tôi đang công tác tại phòng Tài chính Kế hoạch huyện. Trong công tác thẩm định dự toán, quyết toán chi phí tổ chức thực hiện bồi thường có vướng mắc như sau: – Căn cứ Điều 6 Thông tư 74/2015/TT-BTC ngày 15/5/2015 của Bộ Tài chính quy định: "Trường hợp số chi thực tế theo quyết toán được duyệt nhỏ hơn số kinh phí đã nhận thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phải chuyển trả cho chủ đầu tư (hoặc Quỹ phát triển đất nếu nhận kinh phí từ Quỹ phát triển đất) trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quyết toán."; – Căn cứ Khoản 3 điều 14 Nghị định 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ quy định: "Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định, đơn vị được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp.". Vậy tôi xin hỏi Bộ Tài chính. Khi quyết toán chi phí tổ chức thực hiện bồi thường cho Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện (là đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên): Trường hợp số chi thực tế theo quyết toán được duyệt nhỏ hơn số kinh phí đã nhận thì có được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của Trung tâm PTQĐ không. Kính mong Bộ Tài chính quan tâm, hướng dẫn. Tôi xin trân trọng cảm ơn.

Tại điểm a khoản 3 Điều 6 Thông tư số 74/2015/TT-BTC ngày 15/5/2015 của Bộ Tài chính quy định: “Điều 6. Lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất 3. Việc quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất thực hiện như sau: a) Quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư: … – Xử lý phần chênh lệch giữa số chi thực tế theo quyết toán được duyệt so với số kinh phí đã nhận trong trường hợp quyết toán từng dự án, tiểu dự án hoặc quyết toán nhiều dự án, tiểu dự án thực hiện như sau: + Trường hợp số chi thực tế theo quyết toán được duyệt lớn hơn số kinh phí đã nhận thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường được thanh toán phần chênh lệch nhưng tối đa không quá mức được trích quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư này. + Trường hợp số chi thực tế theo quyết toán được duyệt nhỏ hơn số kinh phí đã nhận thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phải chuyển trả cho chủ đầu tư (hoặc Quỹ phát triển đất nếu nhận kinh phí từ Quỹ phát triển đất) trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quyết toán”. Theo quy định trên, trường hợp số chi thực tế theo quyết toán được duyệt nhỏ hơn số kinh phí đã nhận thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phải chuyển trả cho chủ đầu tư (hoặc Quỹ phát triển đất nếu nhận kinh phí từ Quỹ phát triển đất) trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quyết toán.