TIN NỔI BẬT
Đề xuất bỏ thẩm định giá lại đối với dự án điều chỉnh 1/500, đã hoàn thành nghĩa vụ tài chínhCông bố 277 doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026Nhân viên Lái xe (Làm việc tại Hà Nội)6 đơn vị không đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026INFOGRAPHIC: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2025Các ngân hàng có thể tăng trưởng tới 20% trong năm 2026Ngân hàng dự kiến siết chặt tiêu chí tài sản bảo đảm và xếp hạng tín nhiệmQuý 4/2025 xác lập kỷ lục mới về nguồn cung căn hộ tại Hà Nội và TP.Hồ Chí MinhNgân hàng Nhà nước yêu cầu gửi báo cáo trạng thái vàng hàng ngày trước 14 giờ hôm sauGiao dịch điều chỉnh nhẹ về khối lượng, giá trị vẫn được duy trìLãi suất liên ngân hàng giảm sâu sau một tuầnTinh gọn thủ tục, liên thông dữ liệu trong lĩnh vực tài chínhBộ Tài chính yêu cầu triển khai đồng bộ giải pháp ổn định giá dịp Tết Bính Ngọ 2026Thị trường bất động sản sôi động dịp cuối nămNgười hành nghề chứng khoán phải tập huấn kiến thức hằng nămDự báo lợi nhuận ngân hàng năm 2025: Chất lượng quyết định "cuộc chơi"Thêm ngân hàng triển khai giải pháp số hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi, thực hiện nghĩa vụ thuếLoạt chính sách đất đai mới có hiệu lực từ 2026: Người dân hưởng lợi, doanh nghiệp gỡ khóCPA VIETNAM tổ chức Tổng kết hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026CPA VIETNAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2026

Theo Thông tư số 210/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính về quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định thiết kế kỹ thuật, phí thẩm định dự toán xây dựng thì chi phí thẩm định thiết kế kỹ thuật, thẩm định dự toán xây dựng đối với trường hợp thiết kế ba bước; thiết kế bản vẽ thi công, thẩm định dự toán công trình đối với trường hợp thiết kế hai bước được lấy theo Thông tư số 210/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính. Còn đối với trường hợp công trình có thiết kế một bước (lập báo cáo kinh tế kỹ thuật) thì áp dụng hệ số nào?

1. Tại khoản 24 và khoản 26 Điều 1 Luật số 62/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng quy định: – Khoản 24 Điều 1: Sửa đổi, bổ sung Điều 82 như sau: “Điều 82. Thẩm định, phê duyệt thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở … 2. Chủ đầu tư thẩm định các nội dung quy định tại Điều 83 của Luật này đối với bước thiết kế sau: a) Thiết kế FEED trong trường hợp thực hiện hình thức hợp đồng thiết kế – mua sắm vật tư, thiết bị – thi công xây dựng công trình (Engineering – Procurement – Construction, sau đây gọi là hợp đồng EPC); b) Thiết kế kỹ thuật trong trường hợp thiết kế ba bước; c) Thiết kế bản vẽ thi công trong trường hợp thiết kế hai bước; d) Bước thiết kế khác ngay sau bước thiết kế cơ sở trong trường hợp thực hiện thiết kế nhiều bước theo thông lệ quốc tế. – Khoản 26 Điều 1: Bổ sung Điều 83a vào sau Điều 83 như sau: “Điều 83a. Thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở của cơ quan chuyên môn về xây dựng” 1. Cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định bước thiết kế xây dựng quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật này đối với các công trình xây dựng… Như vậy, Luật số 62/2020/QH14 không quy định thẩm định thiết kế kỹ thuật trong trường hợp thiết kế một bước (lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật). 2. Tại khoản 1 Điều 1 Thông tư số 210/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định thiết kế kỹ thuật, phí thẩm định dự toán xây dựng quy định phạm vi điều chỉnh như sau: Thông tư này quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định thiết kế kỹ thuật, phí thẩm định dự toán xây dựng, bao gồm: Thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán xây dựng (trường hợp thiết kế ba bước); thiết kế bản vẽ thi công, dự toán xây dựng (trường hợp thiết kế hai bước). Thông tư số 210/2016/TT-BTC không quy định phí thẩm định thiết kế kỹ thuật[...]

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất có quy định: "Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi cấp Giấy chứng nhận lần đầu đối với đất do chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở do tách hộ đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo Danh mục các xã đặc biệt khó khăn do Thủ tướng Chính phủ quy định".

Tuy nhiên, thôn chúng tôi nằm trong danh sách thôn đặc biệt khó khăn (xã không phải xã đặc biệt khó khăn) được ban hành kèm theo Quyết định 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ, thì chúng tôi có được hưởng chính sách miễn tiền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 2, Điều 11, Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ không?

Tại Khoản 2, Điều 11  Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất có quy định: Điều 11. Miễn tiền sử dụng đất “…2. Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi cấp Giấy chứng nhận lần đầu đối với đất do chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở do tách hộ đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo Danh mục các xã đặc biệt khó khăn do Thủ tướng Chính phủ quy định”. Tại Điều 1, Quyết định 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Chính phủ về việc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2016-2020 thì địa bàn Thị trấn KrôngKlang thuộc huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị nằm trong danh sách xã khu vực II, trong đó thôn Khe Xong là thôn vùng dân tộc thiểu số và miền núi nằm trong danh mục thôn, xã đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ. Như vậy đối chiếu với các quy định trên, thời điểm trước ngày 04/6/2021,  thôn Khe Xong thuộc thị trấn KrôngKlang, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị được hưởng chính sách miễn tiền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 2, Điều 11  Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và Quyết định 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Chính phủ. Trường hợp tiền sử dụng đất phát sinh kể từ ngày 04 tháng 6 năm 2021 trở đi thì đối tượng được miễn, giảm tiền sử dụng đất áp dụng theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Chính phủ mới ban hành (thay thế Quyết định 582/QĐ-TTg) phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2025.

Kính gửi quý! Tôi hiện đang công tác tại Ban quản lý dự án – đơn vị tự chủ chi thường xuyên áp dụng thông tư 72/2017/TT-BTC và thông tư 06/2019/TT-BTC. Tôi có vướng mắc như sau: Theo quy định tại khoản 11, điều 1 thông tư 06/2019/TT-BTC -Sửa đổi, bổ sung Điều 19 như sau: "2. Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập: tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương từ chi phí quản lý dự án do Nhà nước quy định." Vậy tôi muốn hỏi 2 vấn đề sau: 1) Quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương từ chi phí quản lý dự án do Nhà nước quy định làm cơ sở trích Quỹ Bổ sung thu nhập có bao gồm tiền lương trả cho người lao động hợp đồng (lao động hợp đồng trên 1 năm và lao đông hợp đồng ngắn hạn) không nằm trong biên chế được giao hay không? Có bao gồm tiền công làm thêm giờ của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong đơn vị hay không? 2) Đơn vị tôi có được phép chi thanh toán thu nhập tăng thêm cho lao đông hợp đồng không trong biên chế hay không? Rất mong quý Bộ sớm phản hồi để tôi thuận lợi trong quá trình thực hiện công tác của mình. Xin trân trọng cảm ơn!

– Tại khoản 1, khoản 2 Điều 11 Thông tư số 72/2017/TT-BTC ngày 17/7/2017 của Bộ Tài chính quy định: 1. Chi tiền lương: a) Lương ngạch, bậc theo quỹ lương được giao; lương theo hợp đồng lao động đối với các cá nhân được hưởng lương từ dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền và quy định hiện hành của Nhà nước về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. b) Chi tiền lương làm thêm giờ, làm đêm theo quy định của Luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và các văn bản hướng dẫn thực hiện (Nghị định số 45/2013/NQ-CP ngày 10/05/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Thông tư liên tịch Bộ Nội vụ – Bộ Tài chính số 08/2005/TTLT-BNV-BTC ngày 05/01/2005 hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có)). 2. Chi tiền công trả cho lao động theo công việc cụ thể, theo thỏa thuận trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật. – Thông tư số 06/2019/TT-BTC ngày 28/01/2019 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 72/2017/TT-BTC ngày 17/7/2017 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước quy định: Tại khoản 10 Điều 1 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 17 như sau: “Chi thường xuyên, gồm: Tiền lương; tiền công trả cho lao động theo hợp đồng; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp theo lương; …… Nội dung các khoản chi, định mức chi thường xuyên phải phù hợp với quy định tại Điều 11, Điều 16 Thông tư số 72/2017/TT-BTC, khoản 5, khoản 6 Điều 1 Thông tư này và phải được quy định tại Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị. Trích khấu hao tài sản cố định thực hiện theo quy định hiện hành.” Tại khoản 11[...]

Kính gửi Bộ Tài Chính: Dự án bệnh viện đa khoa  và dự án bệnh viện Sản – Nhi là hai dự án có tổng mức đầu tư thuộc dự án nhóm A, theo Khoản 1, Điều 9 Thông tư 10/2020/TT-BTC ngày 20/02/2020 quy định “Tất cả các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A sử dụng nguồn vốn nhà nước khi hoàn thành đều phải kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành trước khi trình cấp có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt quyết toán”. Ban Quản lý  tổ chức đấu thầu lựa chọn công ty thực hiện kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành. Ngày 13/3/2020 công ty  kiểm toán trúng thầu và ký hợp đồng kiểm toán báo cáo quyết toán dự án bệnh viện Sản – Nhi và hợp đồng kiểm toán báo cáo quyết toán dự án bệnh viện đa khoa theo hình thức hợp đồng trọn gói. Tại thời điểm trên Ban Quản lý đã tạm ứng 50% giá trị hợp đồng cho công ty kiểm toán theo quy định. Đến tháng 4 năm 2020, Kiểm toán Nhà nước có quyết định kiểm toán dự án với kiến nghị “Rà soát các hạng mục công việc đã được Kiểm toán nhà nước kiểm toán để thương thảo, đàm phán với đơn vị kiểm toán độc lập về nội dung và phạm vi kiểm toán độc lập nhằm tiết kiệm chi phí kiểm toán của dự án”. Trong trường hợp này Ban Quản lý xin ý kiến từ Bộ Tài Chính: 1. Năm 2021 dự án hoàn thành nhà thầu kiểm toán độc lập có được thực hiện hợp đồng kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành không? 2. Trường hợp nhà thầu kiểm toán độc lập được tiếp tục thực hiện hợp đồng kiểm toán báo cáo quyết toán hoàn thành thì chi phí kiểm toán có trừ phần giá trị khối lượng công việc đã được Kiểm toán Nhà nước kiểm toán rồi không? Rất mong sự hồi đáp và hướng dẫn của Bộ Tài chính ./.

Về xác định chi phí kiểm toán độc lập: – Thông tư số 10/2020/TT-BTC ngày 20/02/2020 của Bộ Tài chính quy định về quyết toán dự án hoàn thành sử dụng nguồn vốn nhà nước có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/4/2020. – Theo thông tin của Độc giả: ngày 13/3/2020 Công ty TNHH kiểm toán AVN Việt Nam trúng thầu và ký hợp đồng kiểm toán báo cáo quyết toán DAHT được ký kết theo hợp đồng trọn gói; do vậy kiểm toán độc lập (thời điểm ký kết hợp đồng kiểm toán,giá trúng thầu, chi phí kiểm toán) thực hiện theo quy định tại Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 và Thông tư số 64/2018/TT-BTC ngày 30/7/2018 của Bộ Tài chính. – Tại Điều 3 Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính (hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2018 đến trước ngày 10/4/2020) “Chi phí đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác, sử dụng. Chi phí hợp pháp là toàn bộ các khoản chi phí thực hiện trong phạm vi dự án, dự toán được duyệt và hợp đồng đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật (đối với những công việc thực hiện theo hợp đồng) kể cả phần điều chỉnh, bổ sung được duyệt theo quy định và đúng thẩm quyền. Chi phí đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được duyệt hoặc được điều chỉnh, bổ sung theo quy định của pháp luật.” – Tại khoản 6 Điều 1 Thông tư số 64/2018/TT-BTC ngày 30/7/2018 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 10 của Thông tư số 09/2016/TT-BTC: a) Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau: “1. Tất cả các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A sử dụng vốn nhà nước khi hoàn thành đều phải kiểm toán quyết toán trước khi trình cấp có thẩm quyền thẩm tra, phê duyệt quyết toán; các dự án còn lại, trường hợp cần thiết cơ quan chủ trì thẩm tra, phê duyệt quyết toán báo cáo người phê duyệt quyết toán yêu cầu kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn thành. Theo yêu cầu kiểm toán báo cáo quyết toán dự án hoàn[...]

1. Hiện nay, nội dung Thông tư 85/2019/TT-BTC có một số vấn đề chưa rõ và không phù hợp đề nghị Bộ giải đáp giúp để triển khai thực hiện, ví dụ: – Điểm d Khoản 2 Điều 5 TT85 quy định: Lệ phí cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam là khoản thu khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (bao gồm cả cấp lại). Quy định nêu trên dẫn đến cách hiểu chỉ thu phí trong trường hợp cấp và cấp lại, trong khi đó hiện nay theo quy định tại Nghị định số 152/2020/NĐ-CP thì thủ tục cấp Giấy phép lao động gồm 3 thủ tục: cấp, cấp lại và gia hạn. Đề nghị Bộ hướng dẫn trong trường hợp này có được quy định lệ phí trong trường hợp gia hạn hay không? – Luật Phí và lệ phí giao HĐND cấp tỉnh thẩm quyền quy định lệ phí hộ tịch. Thông tư số 85/2019/TT-BTC hướng dẫn về lệ phí hộ tịch tại điểm c khoản 2 Điều 5, trong đó quy định đối với việc đăng ký khai sinh, khai tử tại UBND quận, huyện như sau: “Khai sinh (bao gồm: đăng ký khai sinh đúng hạn, không đúng hạn, đăng ký lại khai sinh, đăng ký khai sinh cho người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân); khai tử (bao gồm: đăng ký khai tử đúng hạn, không đúng hạn, đăng ký lại khai tử)”. Tuy nhiên, Luật Hộ tịch không quy định thời hạn phải đăng ký đối với việc đăng ký khai sinh, khai tử tại UBND cấp huyện (chỉ quy định thời hạn phải thực hiện đăng ký khai sinh, khai tử tại UBND cấp xã), do đó không có cơ sở để xác định trường hợp nào là đúng hạn, không đúng hạn. – Hiện nay khi xây dựng phí, lệ phí có nhiều cách hiểu khác nhau, cụ thể: Đối với mức thu phí, các đơn vị thu khi xây dựng mức thu phí căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật để xác định mức thu phí. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 85/2019/TT-BTC quy định nguyên tắc xác định mức thu: “a) Căn cứ mức thu phí, lệ phí hiện hành (nếu có) để làm cơ sở đề xuất mức thu. b) Phù hợp với điều kiện, tình hình cụ thể của địa phương nơi phát sinh hoạt động cung cấp dịch vụ, thu phí, lệ phí …. d) Tham khảo mức thu phí, lệ phí của các địa phương liền kề hoặc địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội tương đồng để bảo đảm sự hài hòa giữa các địa phương”. Do xuất phát từ việc đảm bảo tự chủ tài chính nên hiện nay các đơn vị xây dựng mức thu phí đều dựa trên định mức kinh tế kỹ thuật để đề xuất mức thu, tuy nhiền điều này làm cho mức thu phí, lệ phí có sự thay đổi lớn so với trước đây điều này ảnh hưởng đến đối tượng thu. Đề nghị Bộ hướng dẫn căn cứ, nguyên tắc và cơ sở để xác định đề xuất mức thu vừa đảm bảo lộ trình tự chủ vừa đảm bảo không ảnh hướng quá lớn đến đối tượng thu phí lệ phí. – Qua tham khảo các tỉnh thành việc xây dựng mức thu phí, lệ phí thường đa phần xây dựng từng mức theo các thủ tục hành chính phải thực hiện. Tuy nhiên có quan điểm khác nhau về vấn đề này: quan điểm 1: chỉ xây dựng 1 mức thu duy nhất đối với loại phí và lệ phí đó; quan điểm 2: mức thu phí lệ phí sẽ phải xây dựng dựa trên từng thủ tục hành chính giải quyết do mức độ phức tạp của từng thủ tục hành chính sẽ khác nhau nên mức thu sẽ có sự khác nhau. 2. Tại Điểm a, K3 Điều 9 Nghị quyết 119/2020/QH14 quy định hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng được quyết định áp dụng trên địa bàn thành phố: Phí, lệ phí chưa được quy định trong Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí. Đề nghị Bộ giải đáp giúp quy định nêu trên có phải được hiểu là nếu như có loại phí và lệ phí ngoài danh mục phí và lệ phí được quy định trong Luật thì sẽ áp dụng thẩm quyền nêu trên?

1. Về lệ phí cấp giấy phép lao động – Tại khoản 2 Điều 4 Luật Phí và lệ phí quy định: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quy định các khoản phí, lệ phí trong Danh mục phí, lệ phí, được quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng các khoản phí, lệ phí. – Tại các Mục 3, 4, 5 Nghị định số 152/2020/NĐ-CP ngày 30/12/2020 của Chính phủ quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam quy định thủ tục cấp giấy phép lao động trong các trường hợp cấp mới, cấp lại, gia hạn. – Tại khoản 4 Điều 3 Thông tư số 85/2019/TT-BTC ngày 29/11/2019 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định: Lệ phí cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam (đối với cấp phép do cơ quan địa phương thực hiện) thuộc danh mục các khoản lệ phí thuộc thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh. – Tại điểm d khoản 2 Điều 5 Thông tư số 85/2019/TT-BTC quy định về căn cứ xác định mức thu lệ phí:  Lệ phí cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam là khoản thu khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (bao gồm cả cấp lại). Căn cứ các quy định nêu trên, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quy định mức thu lệ phí cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam khi cung cấp thủ tục hành chính theo các trường hợp cấp giấy phép nêu tại Nghị định 152/2020/NĐ-CP của Chính phủ. 2. Về lệ phí hộ tịch – Tại khoản 2 Điều 4 Luật Phí và lệ phí quy định: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quy định các khoản phí, lệ phí trong Danh mục phí, lệ phí, được quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản[...]

Kính gửi quý Bộ. Tại điểm c Khoản 1 Điều 28 Nghị định số 89/2013/NĐ-CP quy định về thành Lập Hội đồng thẩm định giá nhà nước "c) Hội đồng thẩm định giá tài sản cấp tỉnh, cấp huyện do lãnh đạo hoặc người được ủy quyền của cơ quan tài chính nhà nước (Sở Tài chính, Phòng Tài chính Kế hoạch) làm Chủ tịch, các thành viên khác gồm: – Đại diện đơn vị có tài sản cần thẩm định giá; – Đại diện đơn vị chuyên môn về quản lý giá, quản lý tài chính của cơ quan tài chính nhà nước; – Các thành viên khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng quyết định, căn cứ vào tính chất, đặc điểm của tài sản cần thẩm định giá". Do đặc thù nhiệm vụ thẩm định giá hóa chất, vật tư phục vụ phòng chống Covid 19 khó khăn, ít thông tin do đó để tăng cường công tác thẩm định giá đối với trường hợp này, Sở Tài chính đã tham mưu cho UBND tỉnh Bắc Kạn thành lập Hội đồng thẩm định giá nhà nước với thành phần là Phó chủ tịch UBND tỉnh là Chủ tịch Hội đồng, Lãnh đạo Sở Tài chính, Lãnh đạo Sở Y tế làm phó chủ tịch Hội đồng và Các thành viên khác có liên quan. Hiện nay có thông tin cho rằng việc thành lập Hội đồng thẩm định giá nhà nước do Phó chủ tịch UBND tỉnh làm Chủ tịch hội đồng là không phù hợp và không đúng với quy định của Luật giá và các văn bản hướng dẫn thi hành. Vì vậy, xin hỏi quý Bộ là việc thành lập Hội đồng như vậy có đúng quy định của pháp luật không. Xin cảm ơn quý Bộ.

1. Nghị định số 89/2013/NĐ-CP đã quy định rõ việc thành lập Hội đồng thẩm định giá tài sản cấp tỉnh, cấp huyện và Hội đồng thẩm định giá tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cụ thể: – Điểm c và d Khoản 1 Điều 28 Nghị định số 89/2013/NĐ-CP quy định: “c) Hội đồng thẩm định giá tài sản cấp tỉnh, cấp huyện do lãnh đạo hoặc người được ủy quyền của cơ quan tài chính nhà nước (Sở Tài chính, Phòng Tài chính Kế hoạch) làm Chủ tịch, các thành viên khác gồm: – Đại diện đơn vị có tài sản cần thẩm định giá; – Đại diện đơn vị chuyên môn về quản lý giá, quản lý tài chính của cơ quan tài chính nhà nước; – Các thành viên khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng quyết định căn cứ vào tính chất, đặc điểm của tài sản cần thẩm định giá. d) Hội đồng thẩm định giá tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị (sau đây gọi chung là đơn vị) được giao mua, bán, quản lý và sử dụng tài sản do lãnh đạo đơn vị có tài sản cần thẩm định giá hoặc người được uỷ quyền làm Chủ tịch, các thành viên khác gồm: – Đại diện bộ phận chuyên môn về giá hoặc tài chính, kế toán của đơn vị được giao mua, bán, quản lý, sử dụng tài sản; – Đại diện bộ phận chuyên môn về giá hoặc tài chính của cơ quan cấp trên; – Các thành viên khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng quyết định căn cứ vào tính chất, đặc điểm của tài sản cần thẩm định giá.” 2. Việc Lãnh đạo UBND tỉnh làm Chủ tịch Hội đồng thẩm định giá nhà nước không vi phạm quy định tại Nghị định số 89/2013/NĐ-CP.