Kính gửi Bộ Tài chính. Theo quy định tại TT 06/2019/TT-BTC ngày 28 tháng 01 năm 2019 tại khoản 1 Điều 14 có nội dung "Khi dự án được giao quản lý hoàn thành, chủ đầu tư lập báo cáo quyết toán chi phí quản lý dự án kèm theo chứng từ chi tiêu cùng hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành gửi cơ quan thẩm tra quyết toán phê duyệt theo quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước". Tôi gặp tình huống như sau: Tại thời điểm Chủ đầu tư (quản lý dự án Nhóm I) lập báo cáo quyết toán dự án hoàn thành gửi cơ quan thẩm tra quyết toán trong đó chi phí Ban quản lý dự án chưa được thanh toán, tạm ứng chính vì vậy việc kiểm tra chứng từ chi tiêu là không có, vì vậy việc cắt giảm toàn bộ chi phí Ban quản lý dự án khi chủ đâu tư chưa thanh toán, tạm ứng có đúng quy định hay không? Xin Quý bộ giải đáp thắc, tôi xin chân thành cám ơn!!!
Tại điểm a khoản 8 Điều 1 Thông tư số 06/2019/TT-BTC ngày 28/01/2019 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 14 Thông tư số 72/2017/TT-BTC ngày 17/7/2017 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, trong đó quy định: “…Chủ đầu tư quản lý một dự án có tổng mức đầu tư nhỏ hơn 15 tỷ đồng không phải lập và duyệt quyết toán thu, chi quản lý dự án hàng năm. Khi dự án được giao quản lý hoàn thành, chủ đầu tư lập báo cáo quyết toán chi phí quản lý dự án kèm theo chứng từ chi tiêu cùng hồ sơ quyết toán dự án hoàn thành gửi cơ quan thẩm tra quyết toán phê duyệt theo quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước.” Tại khoản 1 Điều 14 Thông tư số 72/2017/TT-BTC quy định như sau: “Chủ đầu tư, BQLDA quản lý một dự án có tổng mức đầu tư nhỏ hơn 15 tỷ đồng không phải lập và duyệt dự toán thu, chi quản lý dự án; nhưng phải tuân thủ các nội dung chi quy định tại Điều 11 Thông tư này và không vượt định mức trích theo quy định.” Tại Điều 3 Thông tư số 10/2020/TT-BTC ngày 20/02/2020 của Bộ Tài chính quy định về quyết toán dự án hoàn thành sử dụng nguồn vốn nhà nước quy định như sau: “Chi phí đầu tư được quyết toán là toàn bộ chi phí hợp pháp thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác, sử dụng. Chi phí hợp pháp là toàn bộ các khoản chi phí thực hiện trong phạm vi dự án, dự toán được duyệt và hợp đồng đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật (đối với những công việc thực hiện theo hợp đồng) kể cả phần điều chỉnh, bổ sung được duyệt theo quy định và đúng thẩm quyền. Chi phí đầu tư được quyết toán phải nằm trong giới hạn tổng mức đầu tư được duyệt hoặc được điều chỉnh, bổ sung theo quy định của pháp luật.” Tại khoản 9 Điều 14 Thông tư số[...]
Tại Điểm b điều 20 thông tư 10/2020/TT-BTC hướng dẫn chi công tác thẩm tra và phê duyệt quyết toán. Theo hướng dẫn này cơ quan chúng tôi chi phí chi tiết như sau có đúng không? Thứ 1: chi cho cán bộ trực tiếp phụ trách công việc thẩm tra: 35% (Tương đương khoảng 130.000.00đ/năm, trong khi cán bộ này là công chức phòng tài chính, đã hưởng lương hàng tháng từ ngân sách nhàf nước là.5.000.000đ/tháng. Thứ 2, chi cho trưởng phòng tài chính là 25%, phó phòng tài chính 10% (tương đương 85.000.000đ và 40.000.000đ trong khi các cán bộ này cũng là công chức phòng tài chính và đã hưởng lương hàng tháng từ ngân sách nhà nước) Thứ 3: Chi cho chủ tịch UBND huyện 12% Như vậy theo thông tư này có 3 công chức trong phòng tài chính gần như hưởng 2 đầu thu nhập có hợp lý chưa
Tại Khoản 2 Điều 20 Thông tư số 10/2020/TT-BTC ngày 20/02/2020 của Bộ Tài chính quy định về quyết toán dự án hoàn thành sử dụng nguồn vốn nhà nước quy định như sau: “2. Về nội dung chi cho công tác thẩm tra và phê duyệt quyết toán b) Nội dung chi cho công tác thẩm tra và phê duyệt quyết toán gồm: – Chi hỗ trợ trực tiếp cho công tác thẩm tra quyết toán, phê duyệt quyết toán. – Chi trả cho các chuyên gia hoặc tổ chức tư vấn thực hiện thẩm tra quyết toán dự án trong trường hợp cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán ký kết hợp đồng theo thời gian với các chuyên gia hoặc thuê tổ chức tư vấn. – Chi công tác phí, văn phòng phẩm, dịch thuật, in ấn, hội nghị, hội thảo, mua sắm máy tính hoặc trang thiết bị phục vụ công tác thẩm tra và phê duyệt quyết toán. – Các khoản chi khác có liên quan đến công tác thẩm tra quyết toán, phê duyệt quyết toán. c) Căn cứ chi phí thẩm tra, phê duyệt quyết toán và nội dung chi quy định tại điểm b Khoản 2 Điều này, cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán xây dựng quy chế chi tiêu cho công tác thẩm tra và phê duyệt quyết toán, trình thủ trưởng cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định phê duyệt để làm cơ sở thực hiện hằng năm cho đến khi quy chế được điều chỉnh, bổ sung (nếu có). d) Nguồn thu chi phí thẩm tra, phê duyệt quyết toán không phải thực hiện trích nguồn cải cách tiền lương; không hạch toán chung và không quyết toán chung với nguồn kinh phí quản lý hành chính hằng năm của cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán. Chi phí thẩm tra, phê duyệt quyết toán nếu chưa sử dụng hết trong năm, được phép chuyển sang năm sau để thực hiện.” Như vậy, theo Thông tư của Bộ Tài chính cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán (phòng Tài chính kế hoạch huyện) có trách nhiệm xây dựng quy chế chi tiêu cho công tác thẩm tra và phê duyệt quyết toán trình Chủ tịch UBND huyện xem xét, quyết định phê duyệt để thực hiện.
Tôi công tác tại đơn vị hành chính sự nghiệp. Trong năm 2019 đơn vị tôi có thực hiện các chương trình dự án trong đó có các mặt hàng cần thẩm định giá để làm căn cứ lập dự toán.
Vậy, chi phí thẩm định giá tôi có được chi vào nguồn chi thường xuyên không? Vì kinh phí thực hiện dự án không có kinh phí cho thẩm định giá. Năm 2019 tôi không đủ kinh phí để chi thẩm định giá nên tôi đã thực hiện chi bằng kinh phí của năm 2020 vậy có sai không? Khoản chi của tôi có bị xuất toán khi thanh tra không?
1. Độc giả không nêu rõ các chương trình, dự án được bố trí kinh phí chi thường xuyên thuộc lĩnh vực chi nào nên chưa có đủ cơ sở trả lời. Do đó, đề nghị độc giả rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan trong đó quy định nội dung chi thuộc lĩnh vực chi thường xuyên đang bố trí kinh phí để thực hiện chương trình, dự án để xác định các khoản chi phù hợp; trình cấp có thẩm quyền phê duyệt nội dung nhiệm vụ và dự toán chi tiết thực hiện dự án. 2. Căn cứ theo khoản 4 Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước 2015 quy định: “Các khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm quyền giao và phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. Ngân sách các cấp, đơn vị dự toán ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách không được thực hiện nhiệm vụ chi khi chưa có nguồn tài chính, dự toán chi ngân sách làm phát sinh nợ khối lượng xây dựng cơ bản, nợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ chi thường xuyên.” Ngoài ra, tại điều 3, khoản 2, Nghị định 163/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ngân sách nhà nước; theo đó: “Dự toán giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách phải chi tiết theo từng lĩnh vực, nhiệm vụ chi. Trường hợp có các nhiệm vụ chi thực hiện quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, thì dự toán phải chi tiết theo từng nhiệm vụ, dịch vụ, sản phẩm.” Việc phân bổ và giao dự toán Ngân sách nhà nước của đơn vị dự toán thực hiện theo quy định nêu trên. Bộ Tài chính thông tin đến Quý độc giả để biết và thực hiện theo quy định của pháp luật.
Kính gửi Bộ Tài chính, cho tôi hỏi về việc lập dự phòng chi phí cưỡng chế phục vụ thu hồi đất theo Thông tư74/2015/TT-BTC ngày 15/5/2015 hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Tại khoản 3, Điều 3. Nguồn và mức trích kinh phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất như sau: Căn cứ mức kinh phí được trích cụ thể của từng dự án, tiểu dự án, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường xác định kinh phí dự phòng tổ chức thực hiện cưỡng chế kiểm đếm và cưỡng chế thu hồi đất không quá 10% kinh phí quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này để tổng hợp vào dự toán chung. Như vậy, trường hợp rơi vào khoản 1 Điều 3 này thì mức trích cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không quá 2%. Chi phí cưỡng chế 10% được tính thêm 10% nữa hay trích trước 10% tương đương 02%, còn lại 1,8% cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đây là vướng mắc nhờ Bộ Tài chính hướng dẫn
– Theo quy định tại Khoản 2 Điều 31 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về việc quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất thì kinh phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng được trích không quá 2% tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự án. Đối với các dự án thực hiện trên các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn, dự án xây dựng công trình hạ tầng theo tuyến hoặc trường hợp phải thực hiện cưỡng chế kiểm đếm thì tổ chức được giao thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được lập dự toán kinh phí tổ chức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án theo khối lượng công việc thực tế, không khống chế mức trích 2%. – Tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 3Thông tư 74/2015/TT-BTC ngày 15/5/2015 hướng dẫn việc lập dự toán, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định: “Điều 3. Nguồn và mức trích kinh phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất 1. Nguồn kinh phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được trích không quá 2% tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của dự án, tiểu dự án; trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. …3. Căn cứ mức kinh phí được trích cụ thể của từng dự án, tiểu dự án, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường xác định kinh phí dự phòng tổ chức thực hiện cưỡng chế kiểm đếm và cưỡng chế thu hồi đất không quá 10% kinh phí quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này để tổng hợp vào dự toán chung. Căn cứ quy định nêu trên, kinh phí dự phòng tổ chức thực hiện cưỡng chế kiểm đếm, cưỡng chế thu hồi đất (tại khoản 3 Điều 3 Thông tư 74/2015/TT-BTC) nằm ngoài kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ,[...]
Kính gửi Bộ Tài chính. Tôi hiện đang công tác tại Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam – thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông. Tôi có một số nội dung chưa rõ, xin Bộ Tài chính giải đáp như sau: Tại Thông tư số 180/2016/TT-BTC ngày 02/11/2016 của Bộ Tài chính quy định cơ chế tài chính để đảm bảo hoạt động thường xuyên và chi đầu tư cơ sở vật chất của Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam, Ban Quản lý chương trình cung cấp dịch vụ viễn thông công ích và chi cho hoạt động quản lý Chương trình viễn thông công ích: Điều 6 có quy định như sau: “1. Quỹ mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi đảm bảo hoạt động thường xuyên; ủy thác thanh toán các dự án thuộc Chương trình viễn thông công ích; – 2. Quỹ mở tài khoản tại ngân hàng thương mại để: a) Thu các khoản đóng góp của doanh nghiệp viễn thông vào Quỹ theo quy định; b) Chi một số khoản đặc thù, gồm: chi hoàn trả các khoản đã thu cho doanh nghiệp viễn thông (nếu có). 3. Sau khi thu các khoản đóng góp của doanh nghiệp viễn thông vào tài khoản của Quỹ tại ngân hàng thương mại, trong phạm vi 10 ngày làm việc, Quỹ có trách nhiệm làm thủ tục chuyển vào tài khoản tiền gửi mở tại Kho bạc Nhà nước.” Thực hiện quy định nêu trên, các khoản đóng góp của doanh nghiệp viễn thông vào tài khoản của Quỹ tại ngân hàng đã được Quỹ thực hiện chuyển về tài khoản tiền gửi của Quỹ mở tại Kho bạc Nhà nước. Đến nay, sau khi đối chiếu xác nhận số thu nộp năm 2019, 2020, Quỹ xác định khoản kinh phí doanh nghiệp đóng góp thừa và cần hoàn trả doanh nghiệp. Theo quy định tại Khoản 2 – Điểm b – Điều 6 nêu trên, việc hoàn trả khoản đóng góp đã thu của doanh nghiệp được thực hiện từ tài khoản của Quỹ mở tại ngân hàng thương mại. Như vậy, Quỹ thực hiện trích chuyển khoản kinh phí đã thu nộp thừa – từ tài khoản tiền gửi của Quỹ tại Kho bạc về tài khoản tiền gửi của Quỹ tại ngân hàng. Sau đó, chuyển trả trong ngày cho doanh nghiệp từ tài khoản của Quỹ tại ngân hàng. Tôi hiểu như vậy có đúng không. Xin được Bộ Tài chính giải đáp. Trân trọng cám ơn và mong sớm nhận được giải đáp của Bộ Tài chính.
1. Tại Điều 6 Thông tư số 180/2016/TT-BTC ngày 02/11/2016 của Bộ Tài chính quy định cơ chế tài chính đảm bảo hoạt động thường xuyên và chi đầu tư cơ sở vật chất của Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích (VTCI) Việt Nam, Ban Quản lý Chương trình cung cấp dịch vụ VTCI và chi cho hoạt động quản lý Chương trình VTCI quy định: “1. Quỹ mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi đảm bảo hoạt động thường xuyên; ủy thác thanh toán các dự án của Chương trình VTCI. 2. Quỹ mở tài khoản tại ngân hàng thương mại để: a) Thu các khoản đóng góp của doanh nghiệp viễn thông vào Quỹ theo quy định; b) Chi một số khoản đặc thù, gồm: chi hoàn trả các khoản đã thu cho doanh nghiệp viễn thông (nếu có). 3. Sau khi thu các khoản đóng góp của doanh nghiệp viễn thông vào tài khoản của Quỹ tại ngân hàng thương mại, trong phạm vi 10 ngày làm việc, Quỹ có trách nhiệm làm thủ tục chuyển vào tài khoản tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước” 2. Theo quy định tại các Thông tư hướng dẫn chế độ thu nộp, hạch toán các khoản đóng góp các Quỹ Dịch vụ VTCI Việt Nam: – Theo quy đinh tại điểm c khoản 1 Điều 4 Thông tư số 57/2016/TT-BTC ngày 29/3/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu nộp, hạch toán các khoản đóng góp các Quỹ Dịch vụ VTCI Việt Nam và việc chuyển giao tài sản hình thành từ kinh phí của Quỹ dịch vụ VTCI Việt Nam đến năm 2020 (Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/5/2016): c) Doanh nghiệp phải nộp đủ số còn thiếu vào Quỹ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết toán với Quỹ. Trường hợp doanh nghiệp đã nộp thừa cho Quỹ thì số nộp thừa được trừ vào số tiền phải nộp của kỳ tiếp theo hoặc được Quỹ hoàn trả trong trường hợp doanh nghiệp không tiếp tục cung ứng các dịch vụ có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho Quỹ. Quỹ hoàn trả cho doanh nghiệp trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày quyết toán với Quỹ. (Theo quy định tại Khoản 5 Điều 1 Thông tư số 83/2019/TT-BTC ngày[...]
Tôi tên Nguyễn Thị Kim Thoa, công tác tại Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Tôi có vướng mắc như sau:
Phòng Kinh tế Hạ tầng làm chủ đầu tư công trình xây dựng mới 01 cây cầu phục vụ giao thông (không có sửa chữa). Kinh phí lập dự toán khoảng 450 triệu đồng, sử dụng nguồn kinh phí chi thường xuyên, lĩnh vực sự nghiệp kinh tế.
Như vậy khi xây dựng cầu, có được áp dụng Thông tư 92/2017/TT-BTC ngày 18/9/2017 hay không (tại Điểm b, Khoản 1, Điều 1 Phạm vụ điều chỉnh, đối tượng áp dụng có nêu Thông tư này không điều chỉnh với xây dựng mới các hạng mục công trình trong cơ sở đã có)?
Đồng thời, công trình sự nghiệp có tính chất đầu tư dưới 500 triệu đồng (cụ thể là 450 triệu đồng trên) có áp dụng đấu thầu tại Điều 19 Thông tư 58/2016/TT-BTC ngày 29/3/2016 không? Các chi phí thuê tư vấn (chi phí lập dự toán, thẩm tra dự toán, giám sát…) có được thanh toán không?
Trân trọng cảm ơn!
1. Về quy định tại Thông tư số 92/2017/TT-BTC ngày 18/9/2017 của Bộ Tài chính quy định về lập dự toán, phân bổ và quyết toán kinh phí để thực hiện sửa chữa, bảo trì, cải tạo, nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất: Tại điểm b khoản 1 Điều 1 Thông tư số 92/2017/TT-BTC quy định: “b) Thông tư này không điều chỉnh đối với: – Kinh phí để thực hiện các công trình sửa chữa, bảo trì, cải tạo, nâng cấp, mở rộng cơ sở vật chất trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; – Xây dựng mới các hạng mục công trình trong các cơ sở đã có; – Các dự án sử dụng vốn đầu tư công; – Các công trình sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, mở rộng có tính chất đặc thù đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật riêng” Đề nghị độc giả thực hiện theo quy định của pháp luật. 2. Về thực hiện pháp luật về đấu thầu đối với các công trình xây dựng mới: Theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư công năm 2019: Dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án. Vì vậy, công trình xây dựng mới đề nghị bố trí từ nguồn vốn đầu tư công. Thông tư số 58/2016/TT-BTC ngày 29/3/2016 của Bộ Tài chính quy định chi tiết việc sử dụng vốn nhà nước để mua sắm nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp áp dụng đối với các nội dung mua sắm từ nguồn dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước, không áp dụng đối với công trình xây dựng mới từ nguồn vốn đầu tư công. Vì vậy, đề nghị Quý độc giả nghiên cứu Luật Đầu tư công, Nghị định số 40/2020/NĐ-CP ngày 06/4/2020 của[...]
