TIN NỔI BẬT
6 đơn vị không đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026INFOGRAPHIC: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2025Các ngân hàng có thể tăng trưởng tới 20% trong năm 2026Ngân hàng dự kiến siết chặt tiêu chí tài sản bảo đảm và xếp hạng tín nhiệmQuý 4/2025 xác lập kỷ lục mới về nguồn cung căn hộ tại Hà Nội và TP.Hồ Chí MinhNgân hàng Nhà nước yêu cầu gửi báo cáo trạng thái vàng hàng ngày trước 14 giờ hôm sauGiao dịch điều chỉnh nhẹ về khối lượng, giá trị vẫn được duy trìLãi suất liên ngân hàng giảm sâu sau một tuầnTinh gọn thủ tục, liên thông dữ liệu trong lĩnh vực tài chínhBộ Tài chính yêu cầu triển khai đồng bộ giải pháp ổn định giá dịp Tết Bính Ngọ 2026Thị trường bất động sản sôi động dịp cuối nămNgười hành nghề chứng khoán phải tập huấn kiến thức hằng nămDự báo lợi nhuận ngân hàng năm 2025: Chất lượng quyết định "cuộc chơi"Thêm ngân hàng triển khai giải pháp số hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi, thực hiện nghĩa vụ thuếLoạt chính sách đất đai mới có hiệu lực từ 2026: Người dân hưởng lợi, doanh nghiệp gỡ khóCPA VIETNAM tổ chức Tổng kết hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026CPA VIETNAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2026CPA VIETNAM nhận Thư cảm ơn từ Hội Thẩm định giá Việt NamCPA VIETNAM tham dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 của Đảng bộ Thành phố Hà Nội.Năm 2025 ghi nhận kết quả tăng trưởng rõ nét của thị trường bất động sản

Kính gửi quý Bộ! Hiện đơn vị tôi đang thực hiện bán đấu giá tài sản thu hồi từ thực hiện dự án, vốn nhà nước 100%. Nay đã đến bước ký hợp đồng với tổ chức đấu giá, tuy nhiên có một số vướng mắc tôi xin trình bày kính mong quý Bộ hướng dẫn, giúp tôi giải đáp vấn đề này. Đơn vị tôi đăng tải tìm kiếm tổ chức thực hiện đấu giá tài sản từ ngày 13-19/1/2021. đến ngày 19/1/2021 chốt chỉ có 1 đơn vị đăng ký tham dự (gọi là đơn vị A). Trong Phương án đấu giá mà đơn vị A lập phần thù lao đấu giá chỉ ghi rõ là 6.820.000đ + 3% phần chênh lệch (theo Thông tư 45/2017/BTC) trong trường hợp đấu giá thành và 2.000.000đ trong trường hợp đấu giá không thành. do thời gian khi đó là vào sát Tết Nguyên đán xét thấy nếu thực hiện các thủ tục lựa chọn và ký kết hợp đồng đấu giá ngay sẽ không kịp thời gian theo quy định nên đã thống nhất thực hiện sau Tết. Vì vậy Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn tổ chức đấu giá của chúng tôi được ký vào ngày 23/2/2021. và thông báo kết quả lựa chọn tổ chức đấu giá cũng ra vào ngày 23/2/2021. Tuy nhiên thông tư 108/2020/BTC ra ngày 21/12/2020 có hiệu lực từ 4/2/2021 trong đó quy định là 6.820.000đ + 6% phần chênh lệch giá khởi điểm và giá trúng đấu giá trong trường hợp đấu giá thành và 2.000.000đ trong trường hợp đấu giá không thành và chi phí đấu giá tài sản (thỏa thuận theo danh mục công việc quy định tại khoản 2, điều 66 Luật đấu giá) Tôi đang băn khoăn không biết nên ký hợp đồng theo thông tư nào? TT45 hay TT108?? nếu ký theo TT108 thì các kết quả, thông báo lựa chọn tổ chức đấu giá của chúng tôi sẽ phải điều chỉnh lại? còn nếu vẫn thực hiện theo TT45 thì không đúng theo quy định hiện hành. Rất mong sự phản hồi của Quý Bộ. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Theo quy định tại Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật thì: “Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực”. Ngày 21/12/2020, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 108/2020/TT-BTC ngày 21/12/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 45/2017/TT-BTC ngày 12/5/2017 của Bộ Tài chính quy định khung thù lao dịch vụ đấu giá tài sản theo quy định tại Luật đấu giá tài sản, có hiệu lực từ ngày 04/02/2021. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 108/2020/TT-BTC đã quy định: “Đối với các hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản đã được ký kết trước ngày Thông tư này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo quy định tại Thông tư số 45/2017/TT-BTC ngày 12/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định khung thù lao dịch vụ đấu giá tài sản theo quy định tại Luật đấu giá tài sảncho đến khi kết thúc hợp đồng”. Vì vậy, đề nghị quý độc giả căn cứ quy định hiện hành tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Thông tư số 108/2020/TT-BTC và văn bản có liên quan để triển khai thực hiện cho phù hợp.

Kính Gửi: Bộ Tài Chính. Công Ty Chúng Tôi Mong Nhận Được giải đáp Công ty tôi kinh doanh thuộc lĩnh vực thương mại “ mua đi bán lại “ không tham gia hoạt động sản xuất hay công trình xây dựng -Công ty tôi có phát sinh vay vốn ngân hàng để thanh toán các hợp đồng liên quan đến ngành nghề tôi đang kinh doanh bổ sung các mặt hàng liên quan đến ngành nghề tôi đang họat động đủ mặt hàng đang kinh doanh về bán ,chi phí lãi vay phát sinh hang tháng tại công ty chúng tôi có đầy đủ chứng từ thanh toán và đủ điều kiện chi phí hợp lý hợp lệ khi tính thuế TNDN theo khoản 2 điều 4 thông tư 96/2015/TT-BTC .Vậy với các khoản lãi vay phát sinh hàng tháng tôi có được hạch toán hết trong kỳ phát sinh vào Tk “635” hay không? Hay tôi phải hạch tóan vào tài khỏan 242, và nếu hạch tóan phân bổ vào tk 242 thì phân bổ chi phí lãi vay như thế nào (kèm theo tt hướng dẫn) -Tại điểm 2.31 khoản 2 điều 6 thông tư 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi và bổ sung tại điều 4 thông tư 96/2015/TT-BTC Cụ thể điều 2” Các khoản chi phí khôngđược trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm …. khoản2.31 “các khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế” giải thích giúp công ty chúng tôi khoản này được hiểu như thế nào? có liên quan đến chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ mà tôi hạch toán hết vào tk 635 hay không (vì công ty tôi kinh doanh bên lĩnh vực thương mại) – hướng dẫn công ty chúng tôi chi phí lãi vay công ty tôi được hạch toán như thế nào là hợp lệ khi tính thuế TNDN Xin cám ơn Quý cơ quan. Mong nhận được giải đáp

1- Về hạch toán kế toán đối với chi phí đi vay Về nguyên tắc, chi phí lãi vay phải được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ khi phát sinh (trừ trường hợp được vốn hóa theo quy định). Theo đó, tại điểm 3.8,3.9,3.10 khoản 3 Điều 90 Thông tư số 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp quy định cụ thể việc hạch toán kế toán chi phí lãi vay như sau: “3.8. Trường hợp đơn vị phải thanh toán định kỳ lãi tiền vay, lãi trái phiếu cho bên cho vay, ghi: Nợ TK 635 – Chi phí tài chính Có các TK 111, 112,… 3.9. Trường hợp đơn vị trả trước lãi tiền vay, lãi trái phiếu cho bên cho vay, ghi: Nợ TK 242 – Chi phí trả trước (nếu trả trước lãi tiền vay) Có các TK 111, 112,… Định kỳ, khi phân bổ lãi tiền vay, lãi trái phiếu theo số phải trả từng kỳ vào chi phí tài chính, ghi: Nợ TK 635 – Chi phí tài chính Có TK 242 – Chi phí trả trước. 3.10. Trường hợp vay trả lãi sau: – Định kỳ, khi tính lãi tiền vay, lãi trái phiếu phải trả trong kỳ, nếu được tính vào chi phí tài chính, ghi: Nợ TK 635 – Chi phí tài chính Có TK 341 – Vay và nợ thuê tài chính (3411) (nếu lãi vay nhập gốc) Có TK 335 – Chi phí phải trả. – Hết thời hạn vay, khi đơn vị trả gốc vay và lãi tiền vay, ghi: Nợ TK 341 – Vay và nợ thuê tài chính (gốc vay còn phải trả) Nợ TK 34311 – Mệnh giá trái phiếu Nợ TK 335 – Chi phí phải trả (lãi tiền vay của các kỳ trước) Nợ TK 635 – Chi phí tài chính (lãi tiền vay của kỳ đáo hạn) Có các TK 111, 112,…” Đề nghị độc giả căn cứ vào quy định nêu trên để thực hiện hạch toán chi phí đi vay cho phù hợp. 2- Việc xác định chi phí được trừ khi tính thuế TNDN đối với khoản chi phí lãi vay, đề nghị độc giả thực hiện theo quy định của pháp luật thuế hiện hành.

Kính gửi Bộ tài chính! Tôi có một số vướng mắc về công tác hạch toán kế toán lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Theo chuẩn mực kế toán số 2, đoạn 22 “22. Nguyên liệu, vật liệu và công cụ, dụng cụ dự trữ để sử dụng cho mục đích sản xuất sản phẩm không được đánh giá thấp hơn giá gốc nếu sản phẩm do chúng góp phần cấu tạo nên sẽ được bán bằng hoặc cao hơn giá thành sản xuất của sản phẩm. Khi có sự giảm giá của nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ mà giá thành sản xuất sản phẩm cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được, thì nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho được đánh giá giảm xuống bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng” Tôi hiểu là khi có đồng thời 2 điều kiện là: 1. Có sự giảm giá của nguyên vật liệu 2. Giá thành sản xuất sản phẩm > Giá trị thuần có thể thực hiện được Khi thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện nói trên thì mới thực hiện trích lập dự phòng, nếu chỉ có 1 điều điện xảy ra thì không tiến hành trích lập dự phòng cho nguyên vật liệu sử dụng cho mục đích sản xuất sản phẩm. Tôi hiểu như vậy có đúng không? Trong trường hợp công ty tôi có nguyên vật liệu A đồng thời xảy ra 2 điều kiện nói trên, chúng tôi cần trích lập dự phòng như thế nào cho đúng? Tôi đã đọc thông tư 48/2019/TT-BTC hướng dẫn lập dự phòng có hướng dẫn: Mức trích dự phòng giảm giá hàng tồn kho = Lượng hàng tồn kho thực tế tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm x (Giá gốc hàng tồn kho theo sổ kế toán – Giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho) Giá trị thuần có thể thực hiện được: Là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng. Tuy nhiên, chúng tôi đang gặp vướng mắc trong việc xác định giá trị thuần có thể thực hiện được của nguyên vật liệu. Nguyên vật liệu chúng tôi mua về mục đích là để sản xuất, không phải là bán nên chúng tôi không xác định được giá bán & chi phí tiêu thụ của nguyên vật liệu. Chúng tôi có thể sử dụng giá mua nguyên vật liệu gần với thời điểm lập dự phòng giảm giá nguyên vật liệu để tiến hành lập dự phòng có được không? Nếu không được, chúng tôi cần xác định giá trị thuần có thể thực hiện được bằng cách nào? Tôi mong nhận được giải đáp của bộ tài chính để công ty tôi thực hiện cho đúng. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 2 – Hàng tồn kho quy định: “3. Giá trị thuần có thể thực hiện được: Là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng. 19. Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng. Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được thực hiện trên cơ sở từng mặt hàng tồn kho. 22. Nguyên liệu, vật liệu và công cụ, dụng cụ dự trữ để sử dụng cho mục đích sản xuất sản phẩm không được đánh giá thấp hơn giá gốc nếu sản phẩm do chúng góp phần cấu tạo nên sẽ được bán bằng hoặc cao hơn giá thành sản xuất của sản phẩm. Khi có sự giảm giá của nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ mà giá thành sản xuất sản phẩm cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được, thì nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ tồn kho được đánh giá giảm xuống bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được của chúng”. Mức trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho và việc xác định giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho đã được hướng dẫn tại Điểm 1.5 Khoản 1 Điều 45 Thông tư 200/2014/TT-BTC và Điều 4 Thông tư 48/2019/TT-BTC. Căn cứ các quy định nêu trên, Bộ Tài chính trả lời các vướng mắc của Quý độc giả như sau: –  Tại thời điểm cuối kỳ kế toán, nếu doanh nghiệp xác định đồng thời: (1) có sự giảm giá của nguyên vật liệu sử dụng cho mục đích sản xuất sản phẩm và (2) giá thành sản xuất của sản phẩm (được sản xuất từ nguyên vật liệu đó) cao hơn giá trị thuần có thể thực hiện được của sản phẩm thì doanh nghiệp phải lập dự phòng giảm[...]

Tôi là kế toán một trường THPT tại tỉnh Quảng Nam; tháng 10/2017 tôi được Giám đốc Sở giáo dục bổ nhiệm Kế toán trưởng một trường THPT theo quy định tại Thông tư 163/2013/TTLT-BTC-BNV; thời hạn bổ nhiệm 05 năm. Đến năm 2018 thông tư 04/2018/TT-BNV có hiệu lực (không bổ nhiệm kế toán trưởng đối với đơn vị chỉ có 01 kế toán); Tuy nhiên bản thân tôi không hề nhận được quyết định bãi nhiệm của Sở GD, nên nghĩ rằng hết thời hạn bổ nhiệm KTT thực hiện bổ nhiệm lại thì mới được bổ nhiệm phụ trách kế toán. Song đến hết năm 2019, bản thân tôi tự giảm phụ cấp trách nhiệm kế toán xuống còn 0.1 (dù vẫn chưa có QĐ bãi nhiệm). Năm 2020 đơn vị tôi được Thanh tra Sở Giáo dục thanh tra 02 năm 2019 và 2020. Tại kết luận thanh tra có nói việc chi tiền phụ cấp kế toán năm 2019 là sai và yêu cầu thu hồi phần chênh lêch (0.1) (Phụ cấp KTT 0.2 còn phụ cấp phụ trách KT 0.1) nộp Ngân sách. Vậy tôi muốn hỏi: 1. Trong trường hợp của tôi, việc Sở Giáo dục không ra quyết định bãi nhiệm KTT đối với tôi khi Thông tư 04/2018 có hiệu lực là đúng hay sai? 2. Trong trường hợp quyết định bổ nhiệm KTT của tôi được Giám đốc Sở giáo dục ký vẫn còn hiệu lực (quy định thời hạn hiệu lực bổ nhiệm 05 năm) thì việc thu hồi phần phụ cấp kế toán trưởng của tôi ở năm 2019 là đúng hay không? Tôi rất mong được trả lời. Trân trọng cảm ơn!

Nội dung thư độc giả hỏi về việc hưởng phụ cấp kế toán trưởng, phụ trách kế toán trong thời gian chuyển tiếp từ Thông tư 163/2013/TTLT- BTC-BNV sang Thông tư 04/2018/TT-BNV ngày 27/3/2018 hướng dẫn về thẩm quyền, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, thay thế và phụ cấp trách nhiệm công việc của kế toán trưởng, phụ trách kế toán của các đơn vị kế toán trong lĩnh vực kế toán nhà nước. Về vấn đề này Cục Quản lý giám sát Kế toán, Kiểm toán- Bộ Tài chính có ý kiến như sau: Thông tư 04/2018/TT-BNV hướng dẫn cụ thể một số nội dung liên quan đến thẩm quyền, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, thay thế và phụ cấp trách nhiệm công việc của kế toán trưởng, phụ trách kế toán của các đơn vị kế toán trong lĩnh vực kế toán nhà nước theo quy định của Nghị định 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật kế toán. Điểm a, Khoản 2, Điều 20, Nghị định 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật kế toán quy định “Đơn vị kế toán chỉ có một người làm kế toán hoặc một người làm kế toán kiêm nhiệm; đơn vị kế toán ngân sách và tài chính xã, phường, thị trấn thì không thực hiện bổ nhiệm kế toán trưởng mà chỉ bổ nhiệm phụ trách kế toán”. Đồng thời tại Khoản 3, Điều 37 quy định “Đối với các đơn vị trong lĩnh vực kế toán nhà nước đã bổ nhiệm kế toán trưởng trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng theo quy định tại Nghị định này chỉ bổ nhiệm phụ trách kế toán thì không nhất thiết phải miễn nhiệm kế toán trưởng ngay khi Nghị định có hiệu lực thi hành mà tiếp tục được bố trí kế toán trưởng đến hết thời hạn bổ nhiệm ghi trong quyết định bổ nhiệm kế toán trưởng hiện hành. Khi bổ nhiệm lại hoặc bổ nhiệm mới thì chỉ được bổ nhiệm phụ trách kế toán theo quy định tại Nghị định này”. Nghị định 174/2016/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2017, theo đó đối với trường hợp của độc giả khi cơ quan có thẩm[...]

Kính gửi: – Bộ Tài Chính – Tổng Cục thuế Kỳ kê khai quý 04/2019, Công ty chúng tôi có nộp 01 tờ khai bị sai lỗi dữ liệu. Trên tờ khai chỉ thể hiện số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ đầu kỳ (chỉ tiêu 22), số thuế GTGT chưa khấu trừ hết (chỉ tiêu 41) và thuế GTGT còn được khấu trừ chuyển kỳ sau (Chỉ tiêu 43) với số tiền được khấu trừ chuyển kỳ sau là: 8.711.180 đồng. Nhưng trên thực tế và theo chứng từ sổ sách kế toán, tại kỳ kê khai này công ty chúng tôi có phát sinh: Mua vào số hàng hóa dịch vụ có giá trị là: 1.993.932.042 đồng với số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là: 199.393.203 đồng và xuất hóa đơn bán hàng hóa dịch vụ có giá trị là 1.977.430.707 đồng với số thuế GTGT đầu ra là: 197.743.073 đồng. Công ty đã lập bảng kê mua vào, bán ra và lập báo cáo sử dụng hóa đơn cũng phản ánh đầy đủ các số hóa đơn đã sử dụng trong kỳ. Sai lỗi này là do lỗi của kế toán trong quá trình thực hiện lập và đăng tải tờ khai thuế GTGT lên trang điện tử. Do vậy, chúng tôi kính đề nghị Tổng cục thuế giải đáp. 1. Các hóa đơn đầu vào của kỳ quý 4/2019 của Công ty chúng tôi có được kê khai điều chỉnh và khấu trừ bổ sung cùng với các hóa đơn đầu ra do lỗi kê khai sai này hay không? 2. Công ty chúng tôi xẽ phải nộp và bị phạt như thế nào vì lỗi kê khai này? Kính đề nghị quý Bộ cho chúng tôi xin giải đáp

Tại Điều 47 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 quy định về khai bổ sung hồ sơ khai thuế như sau: “Điều 47. Khai bổ sung hồ sơ khai thuế 1. Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai, sót thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế trong thời hạn 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai, sót nhưng trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định thanh tra, kiểm tra.   2. Khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã công bố quyết định thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế thì người nộp thuế vẫn được khai bổ sung hồ sơ khai thuế; cơ quan thuế thực hiện xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế đối với hành vi quy định tại Điều 142 và Điều 143 của Luật này. 3. Sau khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành kết luận, quyết định xử lý về thuế sau thanh tra, kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế thì việc khai bổ sung hồ sơ khai thuế được quy định như sau: a) Người nộp thuế được khai bổ sung hồ sơ khai thuế đối với trường hợp làm tăng số tiền thuế phải nộp, giảm số tiền thuế được khấu trừ hoặc giảm số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn và bịxử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế đối với hành vi quy định tại Điều 142 và Điều 143 của Luật này; b) Trường hợp người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế có sai, sót nếu khai bổ sung làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được khấu trừ, tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn thì thực hiện theo quy định về giải quyết khiếu nại về thuế. 4. Hồ sơ khai bổ sung hồ sơ khai thuế bao gồm: a) Tờ khai bổ sung; b) Bản giải trình khai bổ sung và các tài liệu có liên quan. …” Tại Điều 8 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/03/2013 của Bộ Tài chính quy định về thời điểm xác định thuế GTGT đầu ra như sau:[...]

Kính gửi: Bộ Tài chính Công ty chúng tôi kính doanh thương mại xuất nhập khẩu Chúng tôi có nhập khẩu bã sắn từ Lào về Việt Nam, và bán cho khách hàng là Công ty sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Vậy cho tôi hỏi là: Khâu nhập khẩu mặt hàng này chúng tôi có phải nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu 5% hay ko? và khi bán ra tiêu thụ trong nước thì có chịu thuế suất ko? và bao nhiêu phần trăm? Vậy kính mong bộ tài chính giải đáp thắc mắc giúp chúng tôi Trân trọng và cảm ơn.

Căn cứ Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng; – Tại khoản 1 Điều 4 (đã được sửa đổi tại khoản 1 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính) quy định về đối tượng không chịu thuế như sau: “Sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng), chăn nuôi, thủy sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Các sản phẩm mới qua sơ chế thông thường là sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, ướp muối, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác”. – Tại Điều 10 quy định về thuế suất 5%. – Tại Điều 11 quy định về thuế suất 10% như sau: “Điều 11. Thuế suất 10% Thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không được quy định tại Điều 4, Điều 9 và Điều 10 Thông tư này. Các mức thuế suất thuế GTGT nêu tại Điều 10, Điều 11 được áp dụng thống nhất cho từng loại hàng hóa, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương mại…”. Tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế; quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT như sau: ‘1. Bổ sung Khoản lb và lc vào Điều 3 như sau: “lb. Phân bón; thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản và thức ăn cho vật nuôi khác,[...]