TIN NỔI BẬT
CPA VIETNAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2026CPA VIETNAM nhận Thư cảm ơn từ Hội Thẩm định giá Việt NamCPA VIETNAM tham dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 của Đảng bộ Thành phố Hà Nội.Năm 2025 ghi nhận kết quả tăng trưởng rõ nét của thị trường bất động sảnLập báo cáo tài chính hợp nhất của đơn vị kế toán hành chính, sự nghiệpBà Nguyễn Thị Mai Hoa - Đại diện Chi hội Luật gia Viện Nghiên cứu, đào tạo, kinh tế - tài chính lên nhận Cờ thi đua của Hội Luật gia Việt NamThư cảm ơn từ Hiệp hội Kế toán viên Công chứng tỉnh Quảng Đông.CPA VIETNAM tham gia Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Thẩm định giá Việt NamCPA VIETNAM gửi lời chúc Giáng sinhCPA VIETNAM Chúc mừng kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12Hộ kinh doanh không được trừ ngưỡng 500 triệu khi nộp thuế giá trị gia tăngThực hiện các mục tiêu Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế là nhiệm vụ chung của toàn hệ thống chính trịBáo cáo minh bạch cập nhật thông tin đến ngày 19 tháng 12 năm 2025.Vụ chuyển nhượng “đất vàng” trái phép: Kiến nghị chấn chỉnh hoạt động thẩm định giáThủ tướng Chính phủ: Cần kiểm soát giá bất động sảnBộ Xây dựng trả lời về nguyên nhân khiến giá bất động sản tăng caoThủ tướng chỉ đạo sớm lập Sàn giao dịch vàng quốc gia và phát hành trái phiếu dự án, công trình trọng điểmThị trường phân hóa tích cực, thanh khoản tiếp tục giảm mạnhPhổ biến quy định phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực bảo hiểmĐổi mới tư duy, xây dựng chính sách tài sản công sát bám sát thực tiễn

Kính gửi Cổng thông tin Bộ Tài chính, Công ty TNHH Thuỷ sản Minh Trân, mã số thuế 1201546489, có câu hỏi liên quan đến việc hoàn thuế GTGT của dự án đầu tư như sau: Công ty chúng tôi thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 1201546489 ngày 15/3/2017, vốn điều lệ 16.000.000 đồng, hoạt động trong lĩnh vực thuỷ sản, kho lạnh cấp đông. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Công ty xây dựng dự án nhà kho lạnh số 1 để bảo quản các mặt hàng thuỷ sản do Công ty thu mua từ khách hàng, đã thực hiện các thủ tục hoàn thuế GTGT của dự án đầu tư và được hoàn thuế đối với nhà kho lạnh số 1 này. Do nhu cầu thuê kho lạnh bảo quản hàng nông sản, thuỷ sản trên thị trường ngày càng tăng nên ngày 01/8/2018, Công ty đã lập dự án đầu tư xây dựng Nhà kho lạnh số 2 bảo quản nông sản, thuỷ sản trên cùng địa chỉ trụ sở chính (nhưng khác thửa đất, đã thực hiện các thủ tục tách thửa cho Nhà kho lạnh số 2) với mục đích: cho thuê nhà kho lạnh bảo quản hàng nông sản, thuỷ sản, tiến độ xây dựng: tháng 8/2018 đến tháng 01/2020. Công ty đã kê khai riêng thuế GTGT của dự án đầu tư theo quy định. Đến tháng 01/2020, dự án Nhà kho lạnh số 2 hoàn thành việc xây dựng. Như vậy, dự án đầu tư xây dựng Nhà kho lạnh số 2 có được xem là dự án đầu tư mới hay không (do mục đích hoạt động khác với dự án Nhà kho lạnh số 1) và có được hoàn thuế GTGT hay không. Kính mong Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính giải đáp thắc mắc của Công ty chúng tôi. Xin trân trọng cảm ơn.

Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 3 Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội: “3. Dự án đầu tư mở rộng là dự án đầu tư phát triển dự án đang hoạt động đầu tư kinh doanh bằng cách mở rộng quy mô, nâng cao công suất, đổi mới công nghệ, giảm ô nhiễm hoặc cải thiện môi trường. 4. Dự án đầu tư mới là dự án thực hiện lần đầu hoặc dự án hoạt động độc lập với dự án đang thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. Căn cứ quy định tại điểm 2, khoản 6 Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 10 Nghị định 209/2013/NĐ-CP về việc hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư. Căn cứ quy định tại điểm 3 khoản 3 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 18 Thông tư số 219/2013/TT-BTC về hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư. Căn cứ các quy định trên, trường hợp của Công ty TNHH Thủy sản Minh Trân thuộc dự án đầu tư mở rộng và không đủ điều kiện hoàn thuế GTGT theo quy định tại Điểm 2, Khoản 6 Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ. Đối với trường hợp “cơ sở kinh doanh hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư mở rộng” và “cơ sở kinh doanh hoàn thuế GTGT cho dự án đầu tư cùng tỉnh, thành phố nơi đóng trụ sở chính”, Tổng cục Thuế đang báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét. Sau khi có ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền, Tổng cục Thuế sẽ thông báo Cục Thuế biết và hướng dẫn việc thực hiện. Cục Thuế tỉnh Tiền Giang trả lời để Công ty TNHH Thủy sản Minh Trân biết và thực hiện./.

Thưa Bộ Tài chính! Theo công văn Số: 3997/TCT-DNL ngày 16/09/2014 "Trường hợp doanh nghiệp cử người lao động đi công tác phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giao cho cá nhân tự mua vé máy bay, thanh toán bằng thẻ ATM hoặc thẻ tín dụng mang tên cá nhân, sau đó về thanh toán lại với doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh khoản chi phí này phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm: vé máy bay, thẻ lên máy bay (trường hợp thu hồi được thẻ), các giấy tờ liên quan đến việc điều động người lao động đi công tác có xác nhận của doanh nghiệp, quy định của doanh nghiệp cho phép người lao động thanh toán công tác phí bằng thẻ cá nhân do người lao động được cử đi công tác là chủ thẻ và thanh toán lại với doanh nghiệp, chứng từ thanh toán tiền vé của doanh nghiệp cho cá nhân mua vé kèm theo chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của cá nhân tham gia hành trình vận chuyển thì doanh nghiệp được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào và được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của các hồ sơ, chứng từ nêu trên." Trong trường hợp cá nhân A đi công tác nhưng một cá nhân B khác cùng công ty đứng ra thanh toán hộ vé máy bay điện tử cho cá nhân A này thông qua tài khoản cá nhân của B qua website thì chi phí vé máy bay của A này có được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN hay không? Vì A này nhiều khi là lao động hoặc lãnh đạo người nước ngoài họ thao tác đặt mua vé máy bay điện tử khó.

1. Về thuế TNDN Về nguyên tắc, doanh nghiệp cử người lao động đi công tác (bao gồm công tác trong nước và công tác nước ngoài) nếu có phát sinh chi phí từ 20 triệu đồng trở lên, chi phí mua vé máy bay mà các khoản chi phí này được thanh toán bằng thẻ ngân hàng của cá nhân thì đủ điều kiện là hình thức thanh toán không dùng tiền mặt và tính vào chi phí được trừ nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: – Có hóa đơn, chứng từ phù hợp do người cung cấp hàng hóa, dịch vụ giao xuất. – Doanh nghiệp có quyết định hoặc văn bản cử người lao động đi công tác. – Quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ của doanh nghiệp cho phép người lao động được phép thanh toán khoản công tác phí, mua vé máy bay bằng thẻ ngân hàng do cá nhân là chủ thẻ và khoản chi này sau đó được doanh nghiệp thanh toán lại cho người lao động. Trường hợp Công ty của độc giả cử cá nhân A đi công tác nhưng cá nhân B cùng Công ty dùng tài khoản của mình để thanh toán hộ tiền vé máy bay cho cá nhân A thì khoản chi trên không đáp ứng quy định về thanh toán nên Công ty không được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN đối với khoản chi nêu trên. 2. Về hóa đơn Trường hợp Công ty của độc giả đang sử dụng hóa đơn theo quy định tại Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/12/2014 của Bộ Tài chính thì tiếp tục được sử dụng đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2022. Tuy nhiên, Cục Thuế TP Hải Phòng khuyến khích doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử trước thời hạn để thể hiện tính chuyên nghiệp của doanh nghiệp với các đối tác đồng thời tránh rủi ro mất, cháy hỏng khi sử dụng hóa đơn giấy, tiết kiệm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, giảm chi phí lưu trữ, đảm bảo độ chính xác và an toàn cao…

Sở Xây dựng thành phố Cần Thơ kính gửi Bộ Tài chính: – Thực hiện thẩm định dự án và thu phí thẩm định theo Nghị định 120/2016/NĐ-CP ngày 23/8/2016 và Thông tư số 210/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016; – Theo quy định tại điểm a, khoản 2, điều 5 Nghị định 120/2016/NĐ-CP ngày 23/8/2016. Công chức trực tiếp tham gia thẩm định có được hưởng tiền công ngoài lương cơ bản hay không? – Mong nhận được phản hồi sớm. Chân thành cám ơn.

Tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23/8/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phí và lệ phí quy định: 2. Số tiền phí để lại cho tổ chức thu phí quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 Nghị định này được chi dùng cho các nội dung sau đây: a) Chi thực hiện chế độ tự chủ (đối với cơ quan nhà nước), chi thường xuyên (đối với đơn vị sự nghiệp công lập): -Chi thanh toán cho cá nhân thực hiện công việc, dịch vụ và thu phí: tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản đóng góp theo quy định được tính trên tiền lương (trừ chi phí tiền lương cho cán bộ, công chức đã hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo chế độ quy định) Căn cứ quy định trên, công chức của Sở Xây dựng trực tiếp tham gia thẩm định thiết kế kỹ thuật, thẩm định dự toán xây dựng và thu phí (theo quy định tại Thông tư số 210/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính) đã hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo chế độ quy định thì không được hưởng thêm tiền công.

Công ty TNHH Bình Minh Sapa có mã số thuế: 5300720128, địa chỉ tại: SN 011, đường An Lạc, phường Bắc Cường, Tp Lào Cai. Chúng tôi đang hạch toán thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, kê khai theo quý, có câu hỏi liên quan đến tờ khai thuế GTGT như sau: Công ty chúng tôi có dự án xây dựng nhà liền kề tại ngã 6, tp Lào Cai, mục đích của dự án là xây dựng nhà để bán. Vậy, đối với thuế đầu vào của dự án này, chúng tôi kê khai trên tờ khai 01/GTGT hay trên tờ khai 02/GTGT? Nếu kê khai trên tờ khai 01/GTGT, khi dự án bán ra, phát sinh thuế GTGT đầu ra, thì thuế GTGT được khấu trừ của dự án này xử lý như thế nào? Mong sớm nhận được giải đáp từ quý Bộ! Xin cảm ơn!

Căn cứ Khoản 3 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế và sửa đổi một số điều tại các Thông tư về thuế, quy định về hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư: “3. Hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư a) Cơ sở kinh doanh đang hoạt động thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư (trừ trường hợp hướng dẫn tại điểm c Khoản 3 Điều này và trừ dự án đầu tư xây dựng nhà để bán hoặc cho thuê mà không hình thành tài sản cố định) cùng tỉnh, thành phố, đang trong giai đoạn đầu tư thì cơ sở kinh doanh thực hiện kê khai riêng đối với dự án đầu tư và phải kết chuyển thuế GTGT đầu vào của dự án đầu tư để bù trừ với việc kê khai thuế GTGT của hoạt động sản xuất kinh doanh đang thực hiện. Số thuế GTGT được kết chuyển của dự án đầu tư tối đa bằng số thuế GTGT phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của cơ sở kinh doanh. …”  Căn cứ Điểm c Khoản 3 Điều 11 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ, quy định về khai thuế giá trị gia tăng: “c) Trường hợp người nộp thuế thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng nơi đóng trụ sở chính, đang trong giai đoạn đầu tư thì lập hồ sơ khai thuế riêng cho dự án đầu tư và phải bù trừ số thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ mua vào sử dụng cho dự án đầu tư với thuế giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất[...]

Kính gửi: Bộ Tài chính. Cơ quan tôi là đơn vị hành chính sự nghiệp có thu, có phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quý và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp theo năm.

Theo quy định tại điểm b, khoản 6, Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế: “Người nộp thuế không thuộc diện lập báo cáo tài chính quý theo quy định của pháp luật về kế toán căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh quý và các quy định của pháp luật về thuế để xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý.

Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp của 03 quý đầu năm tính thuế không được thấp hơn 75% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán năm. Trường hợp người nộp thuế nộp thiếu so với số thuế phải tạm nộp 03 quý đầu năm thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế nộp thiếu kể từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý 03 đến ngày nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước”

Xin hỏi Bộ Tài chính, Nghị định này có áp dụng với 03 quý đầu năm 2020 hay không? Đơn vị tôi có số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp Quý 1,2,3 năm 2020 tính đến ngày 5/12/2020 thấp hơn 75% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán năm thì có bị phạt không và có phải nộp bù số thuế tạm nộp còn thiếu vào tháng 12/2020 hay không?

Xin đề nghị Bộ Tài chính giải đáp, hướng dẫn cơ quan tôi.

Xin trân trọng cảm ơn!

– Căn cứ Điều 55 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 quy định về thời hạn nộp thuế quy định về thời hạn nộp thuế như sau: ‘Điều 55. Thời hạn nộp thuế 1. Trường hợp người nộp thuế tính thuế, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế. Trường hợp khai bổ sung hồ sơ khai thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai, sót. Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp thì tạm nộp theo quý, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 30 của tháng đầu quý sau. …” – Căn cứ Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 5/12/2020) quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế “6. Các loại thuế, khoản thu khai quyết toán năm và quyết toán đến thời điểm giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng hoặc tổ chức lại doanh nghiệp. Trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp (không bao gồm doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa) mà doanh nghiệp chuyển đổi kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp được chuyển đổi thì không phải khai quyết toán thuế đến thời điểm có quyết định về việc chuyển đổi doanh nghiệp, doanh nghiệp khai quyết toán khi kết thúc năm. Cụ thể như sau: … b) Thuế thu nhập doanh nghiệp (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp từ chuyển nhượng vốn của nhà thầu nước ngoài; thuế thu nhập doanh nghiệp kê khai theo phương pháp tỷ lệ trên doanh thu theo từng lần phát sinh hoặc theo tháng theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều này). Người nộp thuế phải tự xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý (bao gồm cả tạm phân bổ số thuế thu nhập doanh nghiệp cho địa bàn cấp tỉnh nơi có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh, nơi có bất động sản chuyển nhượng khác với nơi người nộp thuế đóng trụ sở chính) Và được trừ số thuế đã tạm nộp với số phải nộp theo quyết toán thuế năm. Người nộp thuế thuộc diện lập báo cáo tài chính quý theo quy định của pháp luật[...]

Kính gửi: Bộ Tài chính. Hiện tôi đang công tác tại Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lâm Đống. Trong quá trình giải ngân vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại kho bạc đang vướng như sau: – Trong hợp đồng chi phí tư vấn thiết kế bản vẽ thi công. có thỏa thuận trong hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu tạm giữ lại 10% chi phí giám sát tác giả và giữ lại trong tài khoản mở tại ngân hàng Nông nghiệp. – Trong hợp đồng xây lắp giữa chủ đầu tư và nhà thầu. có thỏa thuận mỗi lần thanh toán giữ lại 10%. và giữ lại trong tài khoản mở tại ngân hàng Nông nghiệp. Sau khi công trình bàn giao đưa vào sử dụng 5% thanh toán cho nhà thầu và 5% bảo hành công trình. Hiện tại kho bạc nhà nước Lâm Đồng yêu cầu chủ đầu tư mở tài khoản tiền gửi 3751 và chuyển vào tài khoản 3751 để quản lý theo dõi số tiền tạm giữ lại của chủ đầu tư (theo văn bản số 4025/KBNN-KSCngày 17/8/2018 của kho bạc nhà nước về việc hướng dẫn thông tư số 52/2018/TT-BTC ngày 24/5/2018 của Bộ tài chính) không cho chuyển vào tài khoản giữ lại tại ngân hàng như đã thỏa thuận giữa chủ đầu tư và nhà thầu. Như vậy yêu cầu kho bạc nhà nước Lâm Đồng đúng hay sai? Kính mong Bộ Tài chính giải đáp để đơn vị thực hiện các bước tiếp theo.

– Tại Điều 8, Nghị định số 11/2020/NĐ-CP ngày 20/01/2020 của Chính phủ quy định thành phần hồ sơ pháp lý của dự án (gửi lần đầu khi giao dịch với Kho bạc Nhà nước hoặc khi có phát sinh, điều chỉnh, bổ sung) bao gồmHợp đồng, hồ sơ tạm ứng và hồ sơ thanh toán – Tại gạch đầu dòng thứ 2, Khoản 6, Điều 1, Thông tư số 52/2018/TT-BTC ngày 24/5/2018 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, Thông tư số 108/2016/TT-BTC ngày 30/6/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính, quy định: “Để phục vụ công tác quyết toán công trình, trường hợp giữa chủ đầu tư và nhà thầu có thỏa thuận trong hợp đồng về việc tạm giữ chưa thanh toán cho nhà thầu một khoản tiền nhất định hoặc một tỷ lệ nhất định so với khối lượng hoàn thành và thỏa thuận về việc chuyển khoản tiền nêu trên vào tài khoản tiền gửi của chủ đầu tư mở tại Kho bạc Nhà nước thì việc thanh toán được thực hiện theo quy định của hợp đồng. Chủ đầu tư và nhà thầu chịu trách nhiệm tuân thủ các quy định hiện hành về quản lý hợp đồng xây dựng” – Tại Tiết a, Khoản 3, Điều 9, Mục 2, Chương II, Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính quy định về quản lý, thanh toán vốn đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, theo đó quy định: “Kho bạc Nhà nước căn cứ hồ sơ đề nghị thanh toán của chủ đầu tư, các điều khoản thanh toán được quy định trong hợp đồng, văn bản giao việc hoặc hợp đồng nội bộ (đối với trường hợp tự thực hiện dự án), số lần thanh toán, giai đoạn thanh toán, thời điểm thanh toán và các điều kiện thanh toán và giá trị từng lần thanh toán để thanh toán cho chủ đầu tư. Trong quá trình thanh toán, trường hợp phát hiện sai sót trong hồ sơ đề nghị thanh toán, cơ quan thanh toán vốn đầu[...]