Kính gửi: Tổng cục Thuế. Căn cứ Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài chính về việc Hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam; Căn cứ hợp đồng Chuyển nhượng quyền kinh doanh ngày 12/6/2018 giữa Công ty TNHH Aptech và Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế; Trung tâm Công nghệ Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế (Trung tâm) xin trình bày nội dung vấn đề như sau: Trung tâm có ký hợp đồng với Công ty TNHH Aptech Ấn Độ về việc chuyển nhượng quyền kinh doanh. Theo hợp đồng, Trung tâm sẽ thanh toán 01 lần phí bản quyền là 3.000$ trong vòng 3 năm và thanh toán định kỳ hàng năm bằng 20% doanh thu cho Công ty TNHH Aptech Ấn Độ. Như vậy, khoản tiền mà Trung tâm trả cho Công ty TNHH Aptech Ấn Độ phải chịu thuế nhà thầu. Trong đó, – Thuế TNDN: Trung tâm phải nộp thuế TNDN từ tiền bản quyền thay cho công ty TNHH Aptech Ấn Độ bằng 10% số tiền trả cho công ty TNHH Aptech Ấn Độ. – Thuế GTGT: Về vấn đề nộp thuế GTGT cho hoạt động chuyển nhượng quyền kinh doanh của công ty TNHH Aptech Ấn Độ, Trung tâm xác định như sau: Theo khoản 1, Điều 6, Chương II Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài chính quy định đối tượng chịu thuế GTGT nhà thầu như sau: “Điều 6. Đối tượng chịu thuế GTGT 1. Dịch vụ hoặc dịch vụ gắn với hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế GTGT do Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài cung cấp trên cơ sở hợp đồng nhà thầu, hợp đồng nhà thầu phụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam (trừ trường hợp quy định tại Điều 2 Chương I), bao gồm: – Dịch vụ hoặc dịch vụ gắn với hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế GTGT do Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài cung cấp tại Việt Nam và tiêu dùng tại Việt Nam; – Dịch vụ hoặc dịch vụ gắn với hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế GTGT do Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài cung cấp ngoài Việt Nam và tiêu dùng tại Việt Nam.” Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền kinh doanh giữa Công ty TNHH Aptech Ấn Độ và Trung tâm, phía Công ty TNHH Aptech Ấn Độ cung cấp bản quyền đó là quy trình đào tạo công nghệ thông tin cho Trung tâm để tổ chức đào tạo lập trình viên phần mềm theo chương trình của Công ty TNHH Aptech Ấn Độ. Trung tâm sử dụng những bí quyết kỹ thuật, thương hiệu, tên giao dịch, dịch vụ, giáo trình, quy trình đào tạo của Công ty TNHH Aptech Ấn Độ để tổ chức đào tạo lập trình viên phần mềm tại Huế; việc ra đề thi, chấm thi và cấp bằng do phía Công ty TNHH Aptech Ấn Độ cấp. Như vậy, việc Trung tâm sử dụng bản quyền của công ty TNHH Aptech là để thực hiện hoạt động dạy học. Theo quy định Khoản 13 Điều 4 Văn bản hợp nhất số 14/VBHN-BTC ngày 09/5/2018 của Bộ Tài chính thì dịch vụ dạy học là đối tượng không chịu thuế GTGT. Từ các lý do trình bày như trên, Trung tâm xác định về thuế đối với Khoản tiền trả cho bên nước ngoài để sử dụng thương hiệu Aptech: Căn cứ Thông tư 103/2014/TT-BTC nêu trên, Trung tâm phải nộp thuế thu nhập từ tiền bản quyền thay cho bên nước ngoài bằng 10 % trên số tiền trả cho phía nước ngoài và không nộp thuế giá trị gia tăng. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Ngân sách nhà nước theo quy định, Trung tâm kính đề nghị Tổng cục Thuế hướng dẫn chính sách thuế đối với trường hợp áp dụng thuế GTGT nêu trên. Trân trọng cảm ơn./.
Căn cứ Luật chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2017 quy định: “Điều 2. Giải thích từ ngữ Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: … 2. Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. … 7. Chuyển giao công nghệ là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ.” Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 47 Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sở hữu trí tuệ số 36/2009QH12 ngày 16/9/2009 và Luật số 42/2019/QH14 ngày 14/6/2019) của Quốc hội quy định: “Điều 47. Quy định chung về chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan 1. Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 3 Điều 19, Điều 20, khoản 3 Điều 29, Điều 30 và Điều 31 của Luật này. … 4. Tổ chức, cá nhân được chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan có thể chuyển quyền sử dụng cho tổ chức, cá nhân khác nếu được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan.” Căn cứ khoản 21 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng: “Điều 4. Đối tượng không chịu thuế GTGT … 21. Chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ; chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ. Trường hợp hợp đồng chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu[...]
Kính chào BTC, Công ty tôi có chuyên gia người nước ngoài được cử sang VN làm việc từ 30/7/2019. Tính đến 31/12/2019, cá nhân này ở VN dưới 183 ngày và tính trong 12 tháng liên tục (từ 30/7/2019-30/7/2020) cá nhân này ở VN trên 183 ngày. Do ảnh hưởng của dịch Covid 19, cá nhân này về nước từ tháng 3/2020 và mới quay lại Việt Nam vào tháng 11/2020. 12 tháng liên tục từ 30/7/19 đến 29/7/20, cá nhân này đã ở VN trên 183 ngày, do đó chúng tôi đã quyết toán 12 tháng liên tục theo quy định. Trong năm dương lịch thứ 2 (năm 2020) thì cá nhân này ở VN dưới 183 ngày. Căn cứ Điều 6, Thông tư 111/2013/TT-BTC: "Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế được tính theo năm dương lịch. Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế đầu tiên được xác định là 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Từ năm thứ hai, kỳ tính thuế căn cứ theo năm dương lịch. Ví dụ 3: Ông B là người nước ngoài lần đầu tiên đến Việt Nam từ ngày 20/4/2014. Trong năm 2014 tính đến ngày 31/12/2014, ông B có mặt tại Việt Nam tổng cộng 130 ngày. Trong năm 2015, tính đến 19/4/2015 ông B có mặt tại Việt Nam tổng cộng 65 ngày. Kỳ tính thuế đầu tiên của ông B được xác định từ ngày 20/4/2014 đến hết ngày 19/4/2015. Kỳ tính thuế thứ hai được xác định từ ngày 01/01/2015 đến hết ngày 31/12/2015…” Theo đó, kỳ tính thuế thứ 2 được xác định là từ 01/01/2020 đến 31/12/2020 và là cá nhân không cư trú trong năm 2020. Trong Q1/2020 & Q2/2020 chúng tôi đã tạm tính và nộp thuế TNCN cho cá nhân này theo diện cá nhân cư trú. Do dịch bệnh Covid 19 ảnh hưởng đến lịch trình làm việc và làm thay đổi tình trạng cư trú của cá nhân này trong năm 2020, vậy chúng tôi có được điều chỉnh lại tờ khai thuế TNCN Q1&Q2/20 theo diện cá nhân không cư trú hay không? Kính mong BTC giải đáp và hướng dẫn thực hiện.
– Căn cứ Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân: + Tại Điều 1 hướng dẫn về người nộp thuế: “1. Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: a) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó ngày đến và ngày đi được tính là một (01) ngày. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân khi đến và khi rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được tính chung là một ngày cư trú. Cá nhân có mặt tại Việt Nam theo hướng dẫn tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam. b) Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau: b.1) Có nơi ở thường xuyên theo quy định của pháp luật về cư trú: …b.2) Có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau: …2. Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện nêu tại khoản 1, Điều này. + Tại Điều 6 hướng dẫn về kỳ tính thuế: “Điều 6. Kỳ tính thuế 1. Đối với cá nhân cư trú a) Kỳ tính thuế theo năm: áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công. Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì kỳ tính thuế được tính theo năm dương lịch. Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân[...]
Đầu năm 2021, lãi suất ngân hàng nào cao nhất?
Lãi suất ngân hàng tháng 1/2021 vẫn tiếp tục xu hướng giảm. Hiện Eximbank là ngân hàng đứng đầu đang có mức lãi suất cao nhất với mức 8,40%/năm.[...]
Th1
Quy định đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, trong đó quy định đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử.
Th1
Nghị định số: 01/2021/NĐ-CP ngày 4 tháng 1 năm 2021 của Chính phủ.
Ngày 4 tháng 1 năm 2021, Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2021/NĐ-CP quy định về đăng ký doanh nghiệp.
Th1
Lịch sự kiện và tin vắn chứng khoán ngày 11/1.
Tổng hợp toàn bộ tin vắn nổi bật liên quan đến doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn chứng khoán.[...]
Th1
