TIN NỔI BẬT
Cần kiểm soát, kéo giảm giá nhà ở phù hợp với thực tếQR code và bài toán luân chuyển vốn trong nền kinh tếPhối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ góp phần kiểm soát lạm phátChi lương tiền mặt trên 5 triệu đồng không được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệpCổ phiếu chứng khoán trước chu kỳ tăng trưởng margin 2026Nhiều quỹ trái phiếu có hiệu suất tới 7,5%, vượt lãi gửi tiết kiệmĐề xuất bỏ thẩm định giá lại đối với dự án điều chỉnh 1/500, đã hoàn thành nghĩa vụ tài chínhCông bố 277 doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026Nhân viên Lái xe (Làm việc tại Hà Nội)6 đơn vị không đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026INFOGRAPHIC: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2025Các ngân hàng có thể tăng trưởng tới 20% trong năm 2026Ngân hàng dự kiến siết chặt tiêu chí tài sản bảo đảm và xếp hạng tín nhiệmQuý 4/2025 xác lập kỷ lục mới về nguồn cung căn hộ tại Hà Nội và TP.Hồ Chí MinhNgân hàng Nhà nước yêu cầu gửi báo cáo trạng thái vàng hàng ngày trước 14 giờ hôm sauGiao dịch điều chỉnh nhẹ về khối lượng, giá trị vẫn được duy trìLãi suất liên ngân hàng giảm sâu sau một tuầnTinh gọn thủ tục, liên thông dữ liệu trong lĩnh vực tài chínhBộ Tài chính yêu cầu triển khai đồng bộ giải pháp ổn định giá dịp Tết Bính Ngọ 2026Thị trường bất động sản sôi động dịp cuối năm

Tôi xin hỏi? Tôi là trưởng một đơn vị sự nghiệp công lập cấp huyện, thời gian giữ chức vụ được gần 5 năm. Trước đó tôi đã có 2 năm giữ chức vụ đứng đầu của một đơn vị sự nghiệp công lập cấp huyện khác. Xin hỏi, tôi có đủ điều kiện để chuyển thành công chức và bổ nhiệm công chức lãnh đạo trưởng phòng cấp huyện không?

Bộ Nội vụ trả lời vấn đề này như sau: Theo quy định tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thì trường hợp là viên chức trong đơn vị sự nghiệp có ít nhất 5 năm công tác ở vị trí việc làm yêu cầu trình độ đào tạo đại học trở lên phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng và có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, đáp ứng điều kiện đăng ký dự tuyển công chức và theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng, người đứng đầu cơ quan quản lý công chức được tiếp nhận không qua thi tuyển vào công chức. Khoản 3 Điều 1 Thông tư số 03/2019/TT-BNV ngày 29/11/2018 của Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập quy định, trường hợp có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có ít nhất 5 năm công tác ở vị trí việc làm yêu cầu trình độ đào tạo đại học trở đối với viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập là thời gian làm viên chức từ đủ 5 năm (60 tháng) trở lên, tính từ thời điểm được tuyển dụng viên chức (không kể thời gian tập sự). Đối với trường hợp được tiếp nhận công chức để bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý từ cấp phòng trở lên thì quy trình tiếp nhận vào công chức không qua thi tuyển được thực hiện đồng thời với quy trình về công tác bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo.

Tôi xin hỏi? Theo Phụ lục 9 (Phương pháp xác định dự toán chi phí khảo sát xây dựng) ban hành kèm theo Thông tư số 09/2019/TT-BXD ngày 26/12/2019 của Bộ Xây dựng, xin hỏi, phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng, báo cáo kết quả khảo sát xây dựng = 2% tổng chi phí trực tiếp hay = 2% tổng chi phí trực tiếp cộng với chi phí gián tiếp

Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Trong quá trình phát hành văn bản có sự nhầm lẫn, Bộ Xây dựng trân trọng ý kiến của ông Tạ Kim Quang Trưởng và Bộ sẽ đính chính nội dung này. Vì vậy tại điểm 1.2.4 khoản 1.2, Mục 1, Phụ lục số 9 Thông tư số 09/2019/TT-BXD ngày 26/12/2019 của Bộ Xây dựng hướng dẫn xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng, thì chi phí phục vụ công tác khảo sát xây dựng được xác định bằng tỷ lệ phần trăm chi phí trực tiếp cộng với chi phí gián tiếp.

Công ty của tôi có người lao động nghỉ ốm từ ngày 9/10-11/10/2019. Từ ngày 12/10 đến ngày 31/10/2019 nghỉ không hưởng lương. Vậy, 3 ngày nghỉ ốm này có được giải quyết chế độ ốm đau không? Tháng 10 không đóng BHXH do không đủ ngày công làm thì căn cứ quy định nào để hưởng chế độ?

Bảo hiểm xã hội Việt Nam trả lời vấn đề này như sau: Điều 25 Luật BHXH quy định điều kiện hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động đang tham gia BHXH là: Bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quền theo quy định của Bộ Y tế. Điểm 1 Công văn số 3432/BLĐTBXH-BHXH ngày 8/9/2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc thực hiện chế độ BHXH theo Luật BHXH năm 2014 hướng dẫn như sau: Người lao động thuộc đối tượng đóng BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản bị ốm đau, tai nạn mà không phải tai nạn lao động hoặc phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 7 tuổi ốm đau mà thời gian nghỉ việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng (bao gồm cả trường hợp nghỉ việc không hưởng tiền lương) thì mức hưởng chế độ ốm đau được tính trên mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Trường hợp các tháng liền kề tiếp theo người lao động vẫn tiếp tục bị ốm và phải nghỉ việc thì mức hưởng chế độ ốm đau được tính trên tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp người lao động tại công ty của ông Út nếu đang tham gia BHXH và phải nghỉ việc do ốm đau, có đầy đủ hồ sơ theo quy định tại Điều 100 Luật BHXH thì được giải quyết hưởng chế độ ốm đau.

Để khuyến khích nhân viên trong Công ty luôn biết ngoại ngữ, Công ty tôi đang chi trả các khoản chế độ và phúc lợi, áp dụng chung cho toàn bộ nhân viên trong Công ty với điều kiện là sẽ có chứng chỉ ngoại ngữ theo quy định tương ứng với các trình độ kể cả không sử dụng trong công việc. Cụ thể, trong tiếng Nhật có các cấp độ như N5, N4, N3, N2, N1, bất kỳ nhân viên nào thi đạt chứng chỉ đã tham gia thì sẽ được nhận loại trợ cấp tương ứng với trình độ mình đạt được theo cấp chứng chỉ, ngoài khoản tiền quy định trả cho nhân viên dựa theo chứng chỉ sẽ có khoản nói tiếng Nhật theo thực tế đánh giá từ người Nhật qua cách nói chuyện hoặc bài kiểm tra. Khoản tiền liên quan đến tiếng Nhật này sẽ áp dụng chung cho tất cả nhân viên và khoản tiền này sẽ coi là khoản phúc lợi, được chi trả hàng tháng cùng với kỳ nhận lương và sẽ được nhận 100% theo mức đã quy định nếu như trong tháng làm việc đó nhân viên có số ngày làm việc trong 1 tháng từ 10 ngày trở lên; nếu nhân viên làm việc dưới 10 ngày thì khoản trợ cấp đó sẽ không nhận đủ và được tính theo Công thức = Tổng số tiền/ Số ngày công đi làm trong tháng x Số ngày công thực tế đi làm. Xin hỏi, khoản tiền mà Công ty chi trả hàng tháng cho nhân viên, kể cả trường hợp chi trả đầy đủ 100% hoặc không chi trả 100% do không đạt số ngày đi làm trong tháng là 10 ngày thì Công ty có phải đóng BHXH không?

BHXH tỉnh Vĩnh Phúc trả lời vấn đề này như sau: Điểm 2.2 Khoản 2 Điều 6 Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của BHXH Việt Nam ban hành quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ-BNN; quản lý sổ BHXH, BHYT quy định: Từ ngày 1/1/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH. Các khoản sau sẽ không phải đóng BHXH: Các khoản bổ sung không xác định được mức tiền cụ thể cùng với mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động, trả thường xuyên hoặc không thường xuyên trong mỗi kỳ trả lương gắn với quá trình làm việc, kết quả thực hiện công việc của người lao động theo Điểm b Khoản 3 Điều 4 Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH. Như vậy, trong trường hợp Công ty của ông Trần Anh Đức chi trả khoản phụ cấp tiếng Nhật không xác định mức tiền cụ thể trong mỗi kỳ trả lương mà khoản tiền nhận được dựa trên số ngày công đi làm và thực tế đánh giá từ người Nhật qua cách nói chuyện hoặc bài kiểm tra và là khoản không cố định nên khoản phụ cấp này Công ty không phải đóng BHXH cho người lao động.

Đơn vị tôi đang thực hiện thi công gói thầu xây lắp theo đơn giá cố định, trong hồ sơ dự thầu không nêu công việc và danh sách nhà thầu phụ, tuy nhiên trong quá trình thực hiện gói thầu có phát sinh công việc ngoài phạm vi thực hiện hợp đồng đã được người quyết định đầu tư phê duyệt. Xin hỏi, sau khi đơn vị bà thương thảo với chủ đầu tư để thực hiện phần phát sinh thì phần công việc phát sinh công ty bà có được ký hợp đồng với nhà thầu phụ là công ty B để thực hiện một phần công việc phát sinh không (chủ đầu tư đã có văn bản chấp thuận nhà thầu phụ cho công ty B)?

Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Nội dung hỏi của bà Phạm Như Quỳnh chưa nêu rõ hợp đồng xây dựng thuộc dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngân sách hay nguồn vốn khác. Trường hợp hợp đồng này thuộc phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng thì việc ký kết hợp đồng với nhà thầu phụ thực hiện như sau: – Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định: Tổng thầu, nhà thầu chính được ký hợp đồng với một hoặc một số nhà thầu phụ, nhưng các nhà thầu phụ này phải được chủ đầu tư chấp thuận, các hợp đồng thầu phụ này phải thống nhất, đồng bộ với hợp đồng thầu chính đã ký với chủ đầu tư. – Khoản 1 Điều 47 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP quy định: Đối với các nhà thầu phụ không có trong danh sách thầu phụ kèm theo hợp đồng thì phải được chủ đầu tư chấp thuận. Như vậy, việc nhà thầu ký hợp đồng thầu phụ với nhà thầu phụ sau khi chủ đầu tư chấp thuận là phù hợp. Bộ Xây dựng lưu ý, nhà thầu phụ phải đáp ứng yêu cầu về năng lực theo quy định của pháp luật tương ứng với phần công việc được giao thầu phụ.

Tôi Xin hỏi? nếu doanh nghiệp mới thành lập mà không được tham gia hoạt động xây dựng công trình cấp IV khi chưa có Chứng chỉ năng lực hoạt động thì làm thế nào có thể làm được chứng chỉ năng lực hoạt động?

Cục Quản lý hoạt động xây dựng, Bộ Xây dựng trả lời vấn đề này như sau: Trường hợp tổ chức mới thành lập thì được xét cấp chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng khi đáp ứng các điều kiện tương ứng với lĩnh vực đề nghị theo quy định tại Nghị định số 100/2018/NĐ-CP ngày 16/7/2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Xây dựng, trong đó không yêu cầu tổ chức phải chứng minh kinh nghiệm thực hiện các công việc trước đó.