TIN NỔI BẬT
Nhân viên Lái xe (Làm việc tại Hà Nội)6 đơn vị không đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026INFOGRAPHIC: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2025Các ngân hàng có thể tăng trưởng tới 20% trong năm 2026Ngân hàng dự kiến siết chặt tiêu chí tài sản bảo đảm và xếp hạng tín nhiệmQuý 4/2025 xác lập kỷ lục mới về nguồn cung căn hộ tại Hà Nội và TP.Hồ Chí MinhNgân hàng Nhà nước yêu cầu gửi báo cáo trạng thái vàng hàng ngày trước 14 giờ hôm sauGiao dịch điều chỉnh nhẹ về khối lượng, giá trị vẫn được duy trìLãi suất liên ngân hàng giảm sâu sau một tuầnTinh gọn thủ tục, liên thông dữ liệu trong lĩnh vực tài chínhBộ Tài chính yêu cầu triển khai đồng bộ giải pháp ổn định giá dịp Tết Bính Ngọ 2026Thị trường bất động sản sôi động dịp cuối nămNgười hành nghề chứng khoán phải tập huấn kiến thức hằng nămDự báo lợi nhuận ngân hàng năm 2025: Chất lượng quyết định "cuộc chơi"Thêm ngân hàng triển khai giải pháp số hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi, thực hiện nghĩa vụ thuếLoạt chính sách đất đai mới có hiệu lực từ 2026: Người dân hưởng lợi, doanh nghiệp gỡ khóCPA VIETNAM tổ chức Tổng kết hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026CPA VIETNAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2026CPA VIETNAM nhận Thư cảm ơn từ Hội Thẩm định giá Việt NamCPA VIETNAM tham dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 của Đảng bộ Thành phố Hà Nội.
Tôi có câu hỏi muốn quý anh , chị giúp đỡ như sau: Thực hiện Nghị Định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ và Thông tư số 205/2012/TT-BTC về hỗ trợ thực hiện chính sách bảo vệ và phát triển đất trồng lúa. Trong quá trình thực hiện ở địa phương có gặp một số vướng mắc. Xin hỏi: Theo quy định tại Khoản 3, Điều 3 Thông tư số 205/2012/TT-BTC ngày 23/11/2012 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa theo Nghị định 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa. Khoản 3, Điều 3 quy định ‘ Căn cứ Quyết định của UBND huyện, UBND cấp xã niêm yết và công bố công khai danh sách và mức hỗ trợ cho người sản xuất lúa theo quy định. Phòng Chuyên môn cấp huyện (chức năng quản lý nhà nước về nông nghiệp) có trách nhiệm quản lý, quyết toán kinh phí hỗ trợ người sản xuất lúa và ủy quyền Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức chi trả tiền hỗ trợ cho người sản xuất lúa. Trong quá trình triển khai thực hiện, người dân tổ chức kê khai muộn hoặc chưa kê khai, nên nguồn kinh phí hỗ trợ cho người sản xuất theo NĐ 42/2012/NĐ-CP của các năm 2012-2015 chưa thực hiện xong. Địa phương có xin đề nghị Sở Tài chính chuyển nguồn sang các năm sau để hỗ trợ, xin hỏi làm vậy có phù hợp không?

Trường hợp nguồn kinh phí hỗ trợ cho người sản xuất theo Nghị định số 42/2012/NĐ-CP của các năm 2012-2015 chưa thực hiện xong được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển nguồn sang ngân sách năm sau theo quy định của Luật NSNN năm 2002 và Thông tư số 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý ngân sách cuối năm và lập, báo cáo quyết toán NSNN hàng năm thì địa phương chuyển nguồn sang năm sau để thực hiện. – Từ năm 2017: Theo quy định tại khoản 3 Điều 64 Luật NSNN năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017): Các khoản dự toán chi, bao gồm cả các khoản bổ sung trong năm, đến hết năm ngân sách, kể cả thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách theo quy định tại khoản 2 Điều này chưa thực hiện được hoặc chưa chi hết phải hủy bỏ, trừ một số khoản chi được chuyển nguồn sang năm sau để thực hiện và hạch toán quyết toán vào ngân sách năm sau: a) Chi đầu tư phát triển thực hiện chuyển nguồn sang năm sau theo quy định của Luật đầu tư công; b) Chi mua sắm trang thiết bị đã đầy đủ hồ sơ, hợp đồng mua sắm trang thiết bị ký trước ngày 31 tháng 12 năm thực hiện dự toán; c) Nguồn thực hiện chính sách tiền lương; d) Kinh phí được giao tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập và các cơ quan nhà nước; đ) Các khoản dự toán được cấp có thẩm quyền bổ sung sau ngày 30 tháng 9 năm thực hiện dự toán; e) Kinh phí nghiên cứu khoa học. Như vậy, đối với nguồn kinh phí hỗ trợ cho người sản xuất theo Nghị định số 42/2012/NĐ-CP của các năm 2012-2015 không thuộc diện được chuyển nguồn sang năm sau theo quy định của Luật NSNN năm 2015.

Kính gửi Bộ Tài Chính – Tổng Cục Thuế – Cục Thuế Bình Phước Tôi xin hỏi về thuế suất thuế GTGT: Công ty tôi làm gia công hạt điều cho Công Ty nước ngoài thì xuất hoá đơn tiền gia công chịu thuế suất GTGT là bao nhiêu, xuất hoá đơn gia công hàng trong nước chịu thuế suất GTGT là bao nhiêu Trân trọng cảm ơn.

Căn cứ khoản 1 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định: – Tại khoản 1 Điều 9 quy định thuế suất thuế GTGT 0% như sau: “1. Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài và ở trong khu phi thuế quan; vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu, trừ các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% hướng dẫn tại khoản 3 Điều này. Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu là hàng hóa, dịch vụ được bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan; hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật“. – Tại khoản 4 Điều 10 quy định thuế suất thuế GTGT 5% như sau: “… Dịch vụ sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp gồm phơi, sấy khô, bóc vỏ, tách hạt, cắt, xay xát, bảo quản lạnh, ướp muối và các hình thức bảo quản thông thường khác theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư này.” Căn cứ Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 26/2/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC quy định đối tượng không chịu thuế GTGT: “… Các sản phẩm mới qua sơ chế thông thường là sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, ướp muối, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác…”. Căn cứ các quy định trên và theo nội dung câu hỏi thì: trường hợp Công ty của ông Vũ Văn Anh ký hợp đồng gia công sơ chế hạt điều bao gồm các khâu sơ chế thông thường theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC nêu trên thì dịch vụ này thuộc đối[...]

Kính gửi Bộ tài chính Theo Thông tư số 91/2017/TT-BTC về việc quy định về việc thi, cấp, quản lý chứng chỉ kiểm toán viên và chứng chỉ kế toán viên có nêu : ” Có thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán, kiểm toán tối thiểu 36 tháng, được tính từ thời gian tốt nghiệp ghi trên bằng đại học đến thời điểm đăng ký dự thi “. Năm 2019 tôi đang dự định tham dự kỳ thi kiểm toán viên năm 2019, bằng tốt nghiệp của tôi vào tháng 11/2016 thì nếu năm 2019 Bộ tài chính tổ chức kỳ thi kiểm toán viên cho năm 2019 mà trong văn bản có nêu đến thời điểm đăng ký dự thi là tháng 9/2019 ( giống như năm 2018 được ghi trong văn bản là tháng 9/2018 ) nghĩa là tôi đang thiếu 1 tháng để thi kiểm toán viên nhưng thời gian công tác thực tế của tôi tại Công ty kiểm toán có thời gian hơn 36 tháng thì tôi có được tham gia kỳ thi kiểm toán viên năm 2019 hay không, nếu không thì có cách nào để tôi thi được không do tôi chỉ thiếu 1 tháng. Trân trọng.

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư số 91/2017/TT-BTC ngày 31/8/2017 của Bộ Tài chính về điều kiện dự thi : “3. Có thời gian công tác thực tế về tài chính, kế toán, kiểm toán tối thiểu 36 tháng, được tính trong khoảng thời gian từ tháng tốt nghiệp ghi trên bằng tốt nghiệp đại học (hoặc sau đại học) đến thời điểm đăng ký dự thi. Thời gian công tác thực tế về kiểm toán bao gồm thời gian làm trợ lý kiểm toán tại doanh nghiệp kiểm toán, thời gian làm kiểm toán nội bộ tại bộ phận kiểm toán nội bộ của đơn vị, thời gian làm kiểm toán tại cơ quan Kiểm toán Nhà nước”. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 8 Thông tư số 91/2017/TT-BTC ngày 31/8/2017 của Bộ Tài chính: “1. Hội đồng thi tổ chức ít nhất mỗi năm một kỳ thi vào quý III hoặc quý IV. Trước ngày thi ít nhất 60 ngày, Hội đồng thi thông báo chính thức trên các phương tiện thông tin đại chúng về điều kiện, tiêu chuẩn, thời gian, địa điểm và các thông tin cần thiết khác liên quan đến kỳ thi”. Cũng theo quy định tại Điều 14 và Điều 16 Thông tư số 91/2017/TT- BTC, Hội đồng thi được thành lập cho từng kỳ thi. Hội đồng thi có có trách nhiệm xét duyệt danh sách dự thi. Do đó việc xem xét cụ thể 1 thí sinh có đủ điều kiện dự thi cho từng kỳ thi hay không do Hội đồng thi kỳ đó xem xét, quyết định. Hiện nay Bộ Tài chính đang triển khai các thủ tục để thành lập Hội đồng thi cho kỳ thi năm 2019. Kế hoạch thi cụ thể của năm 2019 sẽ được Hội đồng thi thông báo trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính. Đề nghị quý độc giả theo dõi để cập nhật thông tin về kế hoạch thi, đồng thời đối chiếu, xem xét mình có đủ điều kiện dự thi kỳ thi năm 2019 để có kế hoạch tham gia phù hợp./.

Công ty TNHH Kiểm toán CPA VIETNAM tổ chức Đại Hội Chi bộ Lần thứ VII, nhiệm kỳ 2020-2022.

Hòa cùng không khí cả nước thi đua lập thành tích Chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp và kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm. Sáng ngày 05/10/2019, Chi bộ Công ty TNHH Kiểm toán CPA VIETNAM tổ chức Đại Hội Chi bộ Lần thứ VII, nhiệm kỳ 2020 – 2022.

Đến tuổi 63, tỷ phú Bill Gates trả lời 3 câu hỏi từng đặt ra khi ông mới 20 tuổi.

Tất cả chúng ta đều có những cách riêng để đo lường sự thành công trong cuộc sống và điều đó có thể thay đổi khi chúng ta già đi. Đối với tỷ phú Bill Gates, đây là một bản “đánh giá cuối năm” về cuộc sống cá nhân và công việc của ông.

Cổ phần hóa: ‘Đúng pháp luật nhưng phải nhanh’.

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đang diễn ra chặt chẽ, minh bạch nhưng theo Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, tiến độ vẫn rất chậm, chỉ đạt 27,5% kế hoạch đặt ra cho cả giai đoạn 2016-2020.