Kính gửi Bộ Tài chính: Đơn vị tôi tham mưu UBND huyện một Kế hoạch tổ chức Hội nghị tập huấn, tổ chức 02 lớp, mỗi lớp 02 ngày. Vậy nội dung chi theo thông tư 40/2017/TT-BTC hay Thông tư 36/2018/TT-BTC. Riêng hỗ trợ tiền ăn cho người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ấp thì đơn vị tổ chức hội nghị tập huấn chi trả hay lấy từ nguồn chi đào tạo của cấp xã
– Tại khoản 2 Điều 4 Thông tư Thông tư số 36/2018/TT-BTC ngày 30/3/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức quy định về chi tổ chức tập huấn từ nguồn đào tạo, bồi dưỡng CBCC, viên chức: Chi tổ chức các hội nghị tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ sử dụng nguồn đào tạo, bồi dưỡng CBCC, viên chức thực hiện theo nội dung chi, mức chi quy định tại Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị. Tại Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị quy định về chi hội nghị từ các nguồn kinh phí (ngân sách nhà nước, nguồn thu phí được để lại, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, dịch vụ của đơn vị sự nghiệp, nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật). Theo đó, nội dung chi, mức chi hội nghị tập huấn theo quy định tại Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị. – Về kinh phí tổ chức hội nghị: + Tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 40/2017/TT-BTC quy định: Kinh phí tổ chức hội nghị được bố trí sắp xếp trong phạm vi nguồn kinh phí được giao hàng năm của cơ quan, đơn vị được cấp có thẩm quyền phê duyệt. + Tại khoản 6, khoản 7 Điều 11 Thông tư số 40/2017/TT-BTC quy định về chi hỗ trợ tiền ăn, trong đó quy định: Chi hỗ trợ tiền ăn cho đại biểu là khách mời không trong danh sách trả lương của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp. Trong trường hợp phải tổ chức ăn tập trung, cơ quan, đơn vị tổ chức hội nghị được chi bù thêm phần chênh lệch giữa mức chi thực tế do tổ chức ăn tập trung với mức đã thu tiền ăn từ tiền phụ cấp lưu trú của các đại biểu thuộc cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập[...]
Kính gửi: Bộ Tài chính, Cục quản lý Công sản. Hiện nay tôi đang công tác tại phòng Tài chính – KH huyện X. Vừa qua Chủ tịch UBND huyện có chỉ đạo Cơ quan A thanh lý tài sản là 02 cổng chào pano do cơ quan B làm chủ đầu tư vào năm 2009 với giá trị dự toán 350.000.000đ/cổng (kinh phí cấp vào dự toán của đơn vị B, và đơn vị B quyết toán ngân sách). Phòng Tài chính – KH có hướng dẫn đơn vị A là đây là tài sản của đơn vị B, vì vậy đề nghị đơn vị A làm văn bản chuyển đơn vị B tiến hành thủ tục thanh lý theo đúng quy định (đơn vị B chưa điều chuyển cho đơn vị A), tuy nhiên lãnh đạo đơn vị A nói đây là tài sản của UBND huyện (tất cả tài sản phục vụ công cộng đều là tài sản của UBND huyện), đơn vị chủ đầu tư không được quản lý, sử dụng và nhập vào báo cáo tài sản. Đồng thời, Thủ trưởng đơn vị A còn báo cáo UBND huyện X kiểm điểm chuyên viên phòng Tài chính – KH vì không thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND huyện. Vậy nay phòng Tài chính – KH huyện đề nghị cơ quan Quản lý công sản Bộ Tài chính hướng dẫn thêm về cơ quan sử dụng quản lý, tài sản công có phải là cơ quan trực tiếp đầu tư, mua sắm tài sản trong dự toán đơn vị hay không? Phòng Tài chính – KH có hướng dẫn các đơn vị làm chủ đầu tư mua sắm sửa chữa, tài sản theo quy định, tuy nhiên một số đơn vị không nhập tăng tài sản là cây xanh, thảm cỏ, và các tài sản phục vụ lợi ích công cộng như sửa chữa đường, xá… (do đơn vị làm chủ đầu tư). Vì cán bộ quản lý công sản là cán bộ mới được phân công nhiệm vụ quản lý công sản nên việc chuyên viên phòng Tài chính – KH hướng dẫn các đơn vị nhập quản lý tài sản như vậy là đúng hay sai? Đề nghị Cục quản lý công sản và Bộ Tài chính hướng dẫn thêm.
1. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, nguồn hình thành tài sản công tại cơ quan nhà nước gồm: (i) tài sản bằng hiện vật do Nhà nước giao; (ii) tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm từ ngân sách nhà nước, nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 29 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, tài sản giao cho cơ quan nhà nước sử dụng bao gồm tài sản do Nhà nước đầu tư xây dựng, mua sắm. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, mọi tài sản công đều phải được giao quyền quản lý, quyền sử dụng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị nào đó. Theo quy định tại Điều 37, Điều 38 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, cơ quan được giao quản lý, sử dụng tài sản công có trách nhiệm lập, quản lý hồ sơ đối với tài sản được giao quản lý, thực hiện kế toán kịp thời, đầy đủ đối với tài sản được giao quản lý, sử dụng. Vì vậy, Phòng Tài chính – Kế hoạch với vai trò là cơ quan quản lý tài sản công ở cấp huyện theo quy định tại Khoản 4 Điều 19 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công báo cáo UBND huyện để yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, mua sắm… thì phải xác định cụ thể đơn vị được giao quản lý, sử dụng hoặc giao quản lý tài sản công theo đúng quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công. 2. Tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 29 Nghị định số 151/2017/NĐ-CP quy định: “1. Khi có tài sản công hết hạn sử dụng theo chế độ mà phải thanh lý; tài sản công chưa hết hạn sử dụng nhưng bị hư hỏng mà không thể sửa chữa được hoặc việc sửa chữa không hiệu quả (dự toán chi phí sửa chữa lớn hơn 30% nguyên giá tài sản); nhà làm việc hoặc tài sản khác gắn liền với đất phải phá dỡ để thực hiện dự án đầu tư xây dựng, giải phóng mặt bằng hoặc các[...]
Xin hỏi Bộ Tài chính về Thông Tư 107/2017/TT-BTC : Vấn đề thứ nhất: Trong biểu F01-01/BCQT kết cầu gồm nguồn ngân sách nhà nước, nguồn phí được khấu trừ để lại, nguồn khác được khấu trừ để lại. Vậy nguồn khác được khấu trừ để lại sử dụng tài khoản thu, chi nào ? Trong đơn vị HCSN có rất nhiều khoản thu phục vụ cho hoạt động của đơn vị không mang tính chất kinh doanh : Ví dụ hội phụ nữ, hội nông dân, UBMTTQVN, các trung tâm bảo trợ trẻ em, các trường mầm non, tiểu học,THCS, THPT… có thu các khoản khác như học phí, y tế học đường, thu đóng góp để mua sắm, xdcb. .. hoàn toàn không mang tính chất kinh doanh. Học phí không phải là thu giá. Nhưng một số giảng viên và một số đơn vị cung cấp phần mềm kế toán lại hướng dẫn hạch toán các TK 154,531,632,642 tôi thấy không hợp lý, tôi nghĩ nếu hạch toán vậy thì để phục vụ cho báo cáo tài chính, không phục vụ cho báo cáo quyết toán. Nhưng một số phần mềm kế toán lại đưa vào báo cáo quyết toán toàn bộ số thu và chi(biểu B01/BCQT và F01-01/BCQT). Chưa kể ngành y tế có vật tư tiêu hao cũng đưa toàn bộ vào báo cáo quyết toán. Thông tư 107/2017/TT-BTC không nói đưa khoản này vào báo cáo quyết toán. Vậy hạch toán các TK 154,531,632,642 có đưa vào mẫu báo cáo quyết toán B01/BCQT và F01-01/BCQT không? loại hình nào đưa loại hình nào không đưa vào ? Theo tôi nên cài thêm chi tiết tiểu khoản 3373 và 514 và 614 (đuôi số 9 là thu khác giống mục lục NSNN) hạch toán giống như thu phí và lệ phí là thích hợp nhất). Vì nhiều khoản thu ,chi không mang tính chất thu giá dịch vụ. Vấn đề thứ 2 : Về TK 468 – Nguồn cải cách tiền lương . Áp dụng cho thu phí. Tôi thấy bất hợp lý Trích Nợ 421/468 , nhưng trong tài liệu tài khoản 514 phát sinh bằng số đã chi. Vậy TK 421 làm gì có để mà trích. Vấn đề thứ 3: Chi cải cách tiền lương 40% từ nguồn phí và khác được khấu trừ để lại : Coi như chi hộ Ngân sách hạch toán Nợ 611/111,112. Cứ coi giống như ghi thu và ghi chi. Vậy tài khoản 511 đâu không thấy hướng dẫn trong TT107. Vậy khoản này có lên báo cáo quyết toán Không(Mẫu B01/BCQT và F01-01/BCQT). Theo tôi nên hạch toán TK 468 như vậy đối với nguồn phí và khác Nợ 337/468, kết chuyển số đã chi 468/511 là hợp lý nhất. Riêng nguồn SXKD dịch vụ trích từ TK 421/468. Vấn đề thứ 4 : Thông tư 107 hướng dẫn khi chuyển tiền chi phí Nợ 614/514 (tôi thấy sai vì tiền là TK 111 và 112. Xin chân thành cảm ơn và mong được phúc đáp sớm để thực hiện tốt hơn!
1. Theo thư hỏi của độc giả: về nguồn khác được khấu trừ để lại trên biểu báo cáo F01-01/BCQT là chưa chính xác. Trên biểu báo cáo F01-01/BCQT quy định Phụ lục số 04, chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp ban hành theo Thông tư 107/2017/TT-BTC chỉ bao gồm các nguồn: Nguồn NSNN, nguồn phí được khấu trừ, để lại và nguồnhoạt động khác được để lại. 2. Về hạch toán tài khoản và lập báo cáo quyết toán đối với nguồn hoạt động khác được để lại Căn cứ quy định tại Thông tư 107/2017/TT-BTC: – Tại Khoản 1, Điều 6: “Đối tượng lập báo cáo quyết toán:… Trường hợp đơn vị hành chính, sự nghiệp có phát sinh các khoản thu, chi từ nguồn khác, nếu có quy định phải quyết toán như nguồn ngân sách nhà nước cấp với cơ quan có thẩm quyền thì phải lập báo cáo quyết toán đối với các nguồn này. – Tại phụ lục 02, phần hướng dẫn hạch toán TK 511- Thu hoạt động do NSNN cấp, quy định: “Tài khoản 5118- Thu hoạt động khác: Phản ánh các khoản thu hoạt động khác được để lại mà đơn vị được cơ quan có thẩm quyền giao dự toán (hoặc không giao dự toán) và yêu cầu phải báo cáo quyết toán theo Mục lục NSNN”. – Tại phụ lục 02, phần hướng dẫn hạch toán TK 018- Thu hoạt động khác được để lại, quy định nguyên tắc hạch toán: “Tài khoản này dùng cho các đơn vị hành chính, sự nghiệp phản ánh các khoản thu hoạt động khác được để lại đơn vị mà được cơ quan có thẩm quyền giao dự toán (hoặc không giao dự toán) và yêu cầu phải báo cáo quyết toán theo mục lục NSNN. Khi chi cho các hoạt động theo quy định từ nguồn thu hoạt động khác được để lại phải hạch toán theo Mục lục NSNN. Khi báo cáo quyết toán đơn vị phải báo cáo số thực chi từ nguồn thu hoạt động khác”. Căn cứ theo các quy định nêu trên, trường hợp đơn vị có phát sinh hoạt động mà cơ quan có thẩm quyền quy định phải báo cáo quyết toán theo Mục lục NSNN[...]
Công ty chúng tôi có đầu tư vào dự án bất động sản liên doanh của một Công ty Nhật với một Công ty Việt Nam. Sau đó chúng tôi được mời tham dự chương trình “Tri ân khách hàng và quay số trúng thưởng”. Công ty chúng tôi may mắn là khách hàng duy nhất được trúng thưởng tại chương trình với quà thưởng là “01 chiếc xe ô tô” trị giá 650 triệu đồng đã bao gồm VAT. Theo thể lệ chương trình thì khách hàng trúng thưởng sẽ phải nộp các loại thuế có liên quan để đăng ký sử dụng xe như: thuế thu nhập, thuế trước bạ, phí đăng ký, đăng kiểm, bảo hiểm… Công ty chúng tôi đã hoàn tất các nghĩa vụ thuế liên quan đối với khách hàng trúng thưởng, riêng thuế thu nhập không phải nộp tại thời điểm trúng thưởng trên giá trị trúng thưởng mà sẽ được hạch toán vào thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định. Công ty chúng tôi được trao quà thưởng “chiếc ô tô” kèm theo bộ hồ sơ đăng ký xe sau chương trình quay thưởng hơn 2 tháng. Trong thành phần hồ sơ đăng ký có các loại hoá đơn về nguồn gốc tài sản như sau: 1. Hoá đơn tài chính của Toyota VN xuất bán cho Toyota Bình Dương: giá bán khoảng 620 triệu đồng đã bao gồm thuế VAT 10% 2. Hoá đơn tài chính của Toyota Bình Dương xuất bán cho liên doanh Việt-Nhật tại Bình Dương (đơn vị tổ chức quay thưởng): giá bán 650 triệu đồng đã bao gồm thuế VAT 10% 3. Hoá đơn tài chính của Công ty liên doanh Việt-Nhật (đơn vị tổ chức quay thưởng) xuất cho Công ty chúng tôi (khách hàng trúng thưởng): giá trị trúng thưởng khoảng 585 triệu đồng và thuế VAT 0% ( tức giá trị thuế VAT được giữ lại tại Công ty tổ chức chương trình quay thưởng, sản phẩm trao thưởng không bao gồm VAT 10%). Công ty chúng tôi đã tiến hành đăng ký xe và được cấp biển số lưu hành sử dụng. Tuy nhiên, để kê khai tài sản trúng thưởng vào hạch toán thu nhập và thuế VAT thì chúng tôi gặp một số trở ngại, cần được làm rõ các quy định liên quan đến thuế GTGT đối với sản phẩm xe ô tô, cụ thể: 1. Việc liên doanh Việt-Nhật xuất hoá đơn VAT 0% cho khách hàng trúng thưởng sản phẩm xe ô tô như vậy có đúng không? Theo đăng ký thể lệ chương trình thì sản phẩm trúng thưởng đã bao gồm VAT, việc Công ty tổ chức quay thưởng giữ lại VAT 10% của sản phẩm trúng thưởng để kê khai khấu trừ, không xuất giá trị VAT 10% cho khách hàng nhận trúng thưởng (khách hàng pháp nhân Công ty TNHH) để kê khai hạch toán tài sản Công ty theo quy định như vậy có phù hợp với các luật về thuế GTGT hay không? 2. Nếu tài sản nhận trúng thưởng với thuế GTGT đầu vào là 0% như hiện nay, sau thời gian sử dụng nếu không còn nhu cầu phải thanh lý tài sản thì Công ty chúng tôi phải xuất bán cho đơn vị, cá nhân khác với hoá đơn GTGT có thuế suất đầu ra là 0% (theo thuế suất đầu vào từ liên doanh Việt-Nhật) hay 10% (theo quy định về thuế VAT đối với sản phẩm xe ô tô)? 3. Hoá đơn của Công ty liên doanh Việt-Nhật đến nay đã xuất qua Công ty chúng tôi hơn 2 tháng, Công ty chúng tôi đã có văn bản đề nghị phía liên doanh Việt-Nhật rà soát điều chỉnh phù hợp quy định nhưng đến nay vẫn chưa thống nhất hướng giải quyết. Vậy thời hạn tối đa để hủy hoá đơn (nếu hoá đơn VAT 0% không phù hợp) và xuất lại hoá đơn VAT 10% là bao lâu? Cơ quan nào là cơ quan xem xét giải quyết tranh chấp vấn đề này nếu hai bên không thống nhất thỏa thuận được cách giải quyết? Rất mong nhận được sự hỗ trợ tư vấn của Tổng cục thuế Trân trọng cảm ơn!
Qua xem xét nội dung câu hỏi, Cục Thuế trả lời như sau: – Căn cứ Điều 13 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP ngày 22/05/2018 của Chính phủ quy định về hình thức khuyến mại bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố (chương trình khuyến mại mang tính may rủi): “Điều 13. Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố (chương trình khuyến mại mang tính may rủi) 1. Việc xác định trúng thưởng trong chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải được tổ chức công khai, theo thể lệ đã công bố, có sự chứng kiến của khách hàng và phải được lập thành biên bản. 2. Trong trường hợp bằng chứng xác định trúng thưởng được phát hành kèm theo hàng hóa (gắn kèm, đính kèm, đặt bên trong hàng hóa hoặc các cách thức khác tương tự), thương nhân thực hiện khuyến mại phải thông báo về thời gian và địa điểm thực hiện việc phát hành kèm bằng chứng xác định trúng thưởng vào hàng hoá cho Sở Công Thương nơi thực hiện việc phát hành kèm bằng chứng xác định trúng thưởng vào hàng hóa trước khi thực hiện. 3. Bằng chứng xác định trúng thưởng của chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải tuân thủ các điều kiện sau: a) Được thể hiện dưới dạng vật chất (vé số, phiếu, thẻ dự thưởng; phiếu rút thăm, bốc thăm, quay số; thẻ, tem, phiếu cào; tem, phiếu trúng thưởng; nắp, nút, đáy, vỏ, thân của bao bì sản phẩm hoặc của sản phẩm; chính giải thưởng) hoặc thông điệp dữ liệu (tin nhắn; thư điện tử; mã code, mã giao dịch, mã khách hàng, mã sản phẩm) hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương để làm căn cứ cho việc xác định trúng[...]
Công ty chúng tôi là công ty có vốn đầu tư nước ngoài 100%. Để phát triển dự án đặc biệt, chúng tôi ký hợp đồng lao động 1 năm với ông A là cá nhân nước ngoài (hợp đồng từ tháng 9/2018 đến tháng 8/2019). Ông A đến Việt Nam từ ngày 21/09/2018, rời khỏi Việt Nam ngày 5/7/2019. Vì ông A đã hoàn thành công việc dự án trước hạn nên ông rời khỏi Việt Nam sớm hơn thời hạn hợp đồng nhưng công ty vẫn trả đủ lương 1 năm theo hợp đồng cho ông (phần lương còn lại theo hợp đồng sẽ được chi trả hết vào ngày 5/7/2019). Công ty chúng tôi đã tính thuế thu nhập cá nhân (TNCN) cho ông từ tháng 9/2018 đến tháng 3/2019 theo diện cá nhân không cư trú có mặt ở Việt Nam dưới 183 ngày), từ tháng 4/2019 đến tháng 6/2019 chúng tôi tính thuế TNCN cho ông theo diện cá nhân cư trú. Vậy công ty chúng tôi đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Việt Nam hay chưa. Rất mong quí cơ quan sớm trả lời cho chúng tôi về địa chỉ email nguyenphan_thuylinh@yahoo.com, để chúng tôi được biết và thực hiện đúng qui định pháp luật. Trân trọng
Qua xem xét nội dung văn bản hỏi, Cục Thuế có ý kiến như sau: – Căn cứ khoản 2 Điều 5 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/07/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Quản lý thuế quy định: “2. Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế và nộp đủ các chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với cơ quan quản lý thuế. Trường hợp sau khi hết hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định, người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai sót thì được khai bổ sung, Điều chỉnh hồ sơ khai thuế. Hồ sơ khai thuế bổ sung, Điều chỉnh được nộp cho cơ quan thuế vào bất cứ ngày làm việc nào, không phụ thuộc vào thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của lần tiếp theo, nhưng phải trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế.” – Căn cứ Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính: + Tại Điều 1 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 2 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014) quy định về người nộp thuế: “Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của người nộp thuế như sau: Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập; Đối với cá nhân là công dân của quốc gia, vùng lãnh thể đã ký kết Hiệp định với Việt Nam về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và là cá nhân cư trú tại Việt Nam thì nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân được tính từ tháng đến Việt Nam trong trường hợp cá nhân lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam đến tháng kết thúc hợp đồng lao động và rời Việt Nam (được tính đủ theo tháng) không phải thực hiện các thủ tục xác nhận lãnh sự để được thực hiện không thu thuế trùng hai[...]
Căn cứ Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và chi phí lựa chọn nhà thầu. Căn cứ Thông tư số 88/2018/TT-BTC ngày 28/9/2018 của Bộ Tài chính quy định một số nội dung về quản lý Tài chính đối với dự án theo hình thức đối tác công tư và chi phí lựa chọn nhà đầu tư. Căn cứ Quyết định số 1191/QĐ-BXD ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng công bố định mức chi phí hoạt động của đơn vị quản lý dự án thuộc cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Hiện tại, UBND tỉnh là cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một dự án BOT sau đó UBND tỉnh có quyết định giao dự án về cho Ban quản lý dự án chuyên ngành quản lý (Hợp đồng BOT do UBND tỉnh ký với các nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án). Như vậy Ban QLDA chuyên ngành được hưởng nguồn thu từ chi phí quản lý dự án đầu tư theo hình thức BOT. Vì Ban QLDA chuyên ngành thuộc dự án nhóm 1 theo quy định tại TT72/2017/TT-BTC do đó nguồn thu được chi theo dự toán hàng năm của Ban và chi theo quy chế chi tiêu nội bộ của Ban. Trong quá trình quản lý dự án trên UBND tỉnh (cơ quan nhà nước có thẩm quyền của dự án) đã thành lập Ban chỉ đạo dự án để giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc của dự án. Thành viên của Ban chỉ đạo được trưng dụng từ các Sở, Ban, ngành của Tỉnh với hình thức ghi trong quyết định là kiêm nhiệm. Tôi muốn hỏi đối với các thành viên Ban chỉ đạo có được hưởng tiền lương, phụ cấp hay bất cứ khoản tiền nào không, phương thức chi trả như thế nào? Có phải Ban QLDA chuyên ngành phải chi trả tiền lương, phụ cấp,… (nếu có) cho các thành viên Ban chỉ đạo không? Kính trình Vụ Đầu tư xem xét và hướng dẫn để Ban QLDA có cơ sở thực hiện. Xin chân thành cảm ơn!
Tại điểm b khoản 3 Điều 11 Thông tư số 72/2017/TT-BTC ngày 17/7/2017 của Bộ Tài chính quy định về phụ cấp kiêm nhiệm quản lý dự án như sau: “b) Phụ cấp kiêm nhiệm quản lý dự án: – Đối với cán bộ, công chức, viên chức được phân công làm việc kiêm nhiệm quản lý dự án tại một BQLDA được hưởng phụ cấp quản lý dự án theo tỷ lệ tương ứng với thời gian làm việc tại BQLDA. Mức chi phụ cấp kiêm nhiệm quản lý dự án một tháng cho một cá nhân tối đa bằng 50% tiền lương và phụ cấp lương một tháng của cá nhân đó. – Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức được phân công làm kiêm nhiệm ở nhiều BQLDA thì mức phụ cấp quản lý dự án kiêm nhiệm được xác định tương ứng với tỷ lệ thời gian làm việc cho từng BQLDA, nhưng tổng mức phụ cấp của tất cả các BQLDA làm kiêm nhiệm tối đa bằng 100% mức lương theo cấp bậc, phụ cấp lương được hưởng.” Theo nội dung câu hỏi của độc giả, các thành viên của Ban chỉ đạo được trưng dụng từ các Sở, Ban, ngành của Tỉnh với hình thức ghi trong quyết định là kiêm nhiệm; do đó, các thành viên Ban chỉ đạo được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm quản lý dự án theo quy định nêu trên. Bộ Tài chính có ý kiến trả lời để Quý Độc giả biết và thực hiện theo đúng quy định./.
