Kính gửi Bộ Tài Chính! Tôi có 1 câu hỏi như sau, mong Quý Bộ giải đáp giúp: Theo Khoản 5, Điều 1 của TT 52/2018/TT-BTC ngày 24/5/2018 " Thời hạn thu hồi Tạm ứng: Đối với các công việc của dự án thực hiện theo hợp đồng: vốn tạm ứng chưa thu hồi nếu quá thời hạn 03 tháng kể từ thời điểm phải thu hồi tạm ứng theo quy định của hợp đồng mà nhà thầu chưa thực hiện hoặc khi phát hiện nhà thầu sử dụng sai mục đích, chủ đầu tư có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Kho bạc Nhà nước để thu hồi hoàn trả vốn đã tạm ứng cho ngân sách nhà nước.". Nhưng để đảm bảo việc theo dõi thu hồi tạm ứng thì cần xác định rõ mốc thời gian phải thu hồi tạm ứng trong hợp đồng xây dựng.Vậy, nếu nhà thầu và chủ đầu tư thỏa thuận thời gian Thu hồi tạm ứng nằm ngoài thời gian thực hiện hợp đồng có được hay không? do nhiều trường hợp khối lượng công việc đã nghiệm thu trong thời gian thực hiện hợp đồng, nhưng hồ sơ thanh toán chưa xong nên nhà thầu chưa gửi hồ sơ cho chủ đầu tư để thanh toán. Ví dụ: thời gian thực hiện hợp đồng 60 ngày, nhưng Hợp đồng sẽ quy định: " Tiền tạm ứng được thu hồi ở lần thanh toán đầu tiên và đảm bảo thanh toán hết khi giá trị thanh toán đạt 80% giá trị hợp đồng. Đồng thời, trong vòng 70 ngày kể từ ngày ký hợp đồng nhà thầu phải gửi hồ sơ khối lượng hoàn thành đợt 1 cho Chủ đầu tư thực hiện thu hồi tạm ứng…."
Hiện nay, việc quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công thực hiện theo Nghị định số 99/2021/NĐ-CP ngày 11/11/2021 của Chính phủ quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán dự án sử dụng vốn đầu tư công Tại Điều 10 về tạm ứng vốn: Theo Tiết a, Khoản 1 nguyên tắc tạm ứng vốn quy định “Mức vốn tạm ứng, thời điểm tạm ứng, mức thu hồi tạm ứng từng lần, thời điểm thu hồi tạm ứng từng lần và các nội dung khác đảm bảo việc thu hồi tạm ứng do chủ đầu tư thống nhất với nhà thầu theo đúng quy định phải được ghi cụ thể trong hợp đồng và phải phù hợp với tiến độ đầu tư dự án, tiến độ thực hiện hợp đồng và khối lượng thực hiện theo từng năm. Mức vốn tạm ứng và số lần tạm ứng được phân định cụ thể theo từng năm phù hợp với tiến độ thực hiện hợp đồng trong năm tương ứng (nếu có).” Theo Tiết a, Khoản 5 thu hồi vốn tạm ứng quy định: “Vốn tạm ứng được thu hồi qua các lần thanh toán khối lượng hoàn thành của hợp đồng, mức thu hồi từng lần do chủ đầu tư thống nhất với nhà thầu, được quy định cụ thể trong hợp đồng và đảm bảo thu hồi hết khi giá trị giải ngân đạt 80% giá trị hợp đồng (trừ trường hợp được người có thẩm quyền cho tạm ứng ở mức cao hơn)” Theo Tiết d, Khoản 5 về thời hạn thu hồi vốn tạm ứng quy định: “Đối với các công việc của dự án thực hiện theo hợp đồng (bao gồm cả hợp đồng xây dựng và hợp đồng của dự án không có cấu phần xây dựng): vốn tạm ứng quá hạn thu hồi sau 03 tháng kể từ thời điểm phải thu hồi vốn tạm ứng theo quy định của hợp đồng mà nhà thầu chưa thực hiện hoặc khi phát hiện nhà thầu sử dụng sai mục đích, chủ đầu tư có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan kiểm soát, thanh toán để thu hồi hoàn trả vốn đã tạm ứng cho ngân sách nhà nước. Trường hợp chủ đầu tư chưa thu hồi, cơ quan kiểm soát, thanh toán có văn bản[...]
Kính gửi Bộ Tài chính, đơn vị tôi là cơ quan hành chính nhà nước (chi cục trực thuộc Sở), đơn vị tôi thực hiện mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của đơn vị theo Thông tư số 58/2016/TT-BTC và Quyết định số 01//2018/NQ-HĐND ngày 11/7/2018 của Hội đồng nhân dân TP. Cần Thơ quy định Phân cấp thẩm quyền quyết định đối với tài sản công của các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý của thành phố Cần Thơ. Hàng năm, sau khi đơn vị nhận được Quyết định giao dự toán của Sở thì đơn vị thực hiện phê duyệt dự toán mua sắm, sau đó phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu để thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 2, điều 3 của thông tư 58. "Căn cứ dự toán chi ngân sách hàng năm, dự toán bổ sung trong năm được cơ quan có thẩm quyền giao và Quyết định mua sắm tài sản của cấp có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 5 Thông tư này, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu để tổ chức thực hiện mua sắm hàng hóa, dịch vụ theo đúng quy định" Tại Điều 3. Nghị quyết 01/2018/HĐND TPCT nêu trên có nội dung phân cấp thẩm quyền quyết định đối với tài sản công thuộc địa phương quản lý 1. Thẩm quyền quyết định mua sắm, thuê tài sản a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố quyết định mua sắm, thuê tài sản: – Trụ sở làm việc, công trình sự nghiệp, nhà ở công vụ và tài sản khác gắn liền với đất. – Xe ô tô và phương tiện vận tải khác. b) Tài sản khác (trừ các tài sản đã quy định tại điểm a, Khoản 1, Điều này): – Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố quyết định mua sắm, thuê tài sản theo danh mục dự toán có giá trị trên 500 triệu đồng hoặc tài sản có giá trị trên 250 triệu đồng trên một đơn vị tài sản. – Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định mua sắm, thuê tài sản theo danh mục dự toán có giá trị không quá 500 triệu đồng hoặc tài sản có giá trị không quá 250 triệu đồng trên một đơn vị tài sản. – Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện quyết định việc mua sắm, thuê tài sản cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý ngân sách quận, huyện và phường, xã, thị trấn. ……
Tôi xin hỏi như sau: Tôi căn cứ theo Khoản 1 Điều 5 của thông tư 58/2016 quy định: "Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý" và Khoản 2 của thông tư 58/2016 quy định:"Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương" và triển khai áp dụng Nghị quyết 01/2018 của HĐND TPCT tại địa phương nêu trên có đúng không?
Do hiện nay một số đơn vị tại thành phố Cần Thơ cho rằng Nghị quyết 01/2018 của TPCT nêu trên chỉ áp dụng cho phân cấp thẩm quyền quyết định đối với tài sản công và không áp dụng cho Thông tư 58/2016 mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ. -Hiện nay đang có những tranh luận gay gắt, có ý kiến cho rằng theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 thông tư 58/2016 quy định:" Thủ trưởng đơn vị dự toán các cấp quyết định việc mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ đối với nội dung, danh mục dự toán mua sắm có giá trị thuộc phạm vi được cơ quan có thẩm quyền phân cấp; đồng thời được quyết định mua sắm các nội dung, danh mục dự toán mua sắm có giá trị không quá 100 triệu đồng trong phạm vi dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền giao" có nghĩa là thủ trưởng đơn vị dự toán chỉ có thẩm quyền phê duyệt dự toán mua sắm và kế hoạch lựa chọn nhà thầu có giá trị không quá 100 triệu đồng, còn trên 100 triệu đồng thì phải làm tờ trình, trình cơ quan cấp trên, trình Sở tài chính, rồi trình Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt rồi mới được thực hiện. Không được áp dụng Nghị quyết 01/2018 phân cấp nêu trên cho Khoản 3 Điều 5 của thông tư 58. Rất mong được Quý Bộ giải đáp thắc mắc cho tôi, tôi vô cùng biết ơn. Tôi xin chân thành cảm ơn
1. Theo Thông tư số 58/2016/TT-BTC: – Khoản 1, Khoản 2 Điều 5 quy định: 1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý. 2. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương. – Điều 10 quy định về căn cứ lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu, trong đó: 2. Quyết định mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ của cấp có thẩm quyền (quy định tại Điều 5 Thông tư này) hoặc kế hoạch, danh Mục dự toán mua sắm được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Theo đó, trường hợp đơn vị (Chi cục trực thuộc Sở) sử dụng nguồn kinh phí (được quy định tại khoản 2 Điều 2 Thông tư số 58/2016/TT-BTC) để mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ nhằm duy trì hoạt động thường xuyên thì thực hiện theo Thông tư số 58/2016/TT-BTC và phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ tại địa phương. 2. Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 58/2016/TT-BTC quy định: “3. Thủ trưởng đơn vị dự toán các cấp quyết định việc mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ đối với nội dung, danh mục dự toán mua sắm có giá trị thuộc phạm vi được cơ quan có thẩm quyền phân cấp; đồng thời được quyết định mua sắm các nội dung, danh mục dự toán mua sắm có giá trị không quá 100 triệu đồng trong phạm vi dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền giao.” Theo quy định trên, trường hợp thủ trưởng đơn vị dự toán các cấp đã được cơ quan có thẩm quyền phân cấp quyết định việc mua sắm tài sản, hàng hóa, dịch vụ đối với nội dung, danh mục dự toán mua sắm có giá trị trên 100 triệu đồng thì thực hiện theo phân cấp hiện hành.
Kính gửi Quý cơ quan, Công ty chúng tôi là công ty có địa chỉ trụ sở chính tại Thụy Sỹ và một văn phòng đại diện ở Hà Nội. Chúng tôi là nhà thầu nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam. Công ty chúng tôi tại Thụy Sỹ, có mở tài khoản ngân hàng tại Việt Nam, ví dụ như: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội hoặc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong. Tài khoản này sẽ được sử dụng với các mục đích cụ thể như sau: Trường hợp 1: Tiền thu được từ các hoạt động mua bán giữa Công ty tại Thụy Sỹ với các đối tác ở nước ngoài như từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia… sẽ được chuyển vào tài khoản trên tại Việt Nam của Công ty chúng tôi. Sau đó, số tiền này sẽ được công ty chúng tôi phân phối lại tới: 1. Tài khoản ngân hàng của công ty chúng tôi ở Thụy Sỹ, hoặc 2. Tài khoản ngân hàng của các Chi nhánh khác của Công ty chúng tôi tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia…, hoặc 3. Tài khoản ngân hàng của các đối tác thứ ba của Công ty chúng tôi tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia… Công ty chúng tôi xin được hỏi sẽ có thuế phát sinh tại Việt Nam hay không với từng tình huống 1, 2 và 3 như đã trình bày trong Trường hợp 1 này. Trường hợp 2: Tiền thu được từ các hoạt động mua bán giữa Công ty chúng tôi với các đối tác ở Việt Nam như Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng Công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí (PVN)… sẽ được chuyển vào tài khoản trên ở Việt Nam của Công ty chúng tôi. Số tiền này sẽ được công ty chúng tôi chuyển lại tới tài khoản ngân hàng của công ty chúng tôi ở Thụy Sỹ. Công ty chúng tôi xin được hỏi sẽ có thuế phát sinh tại Việt Nam hay không như đã trình bày trong Trường hợp 2 này. Trân trọng.
– Căn cứ Điều 1 Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam: “Hướng dẫn tại Thông tư này áp dụng đối với các đối tượng sau (trừ trường hợp nêu tại Điều 2 Chương I): 1. Tổ chức nước ngoài kinh doanh có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài) kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thỏa thuận, hoặc cam kết giữa Nhà thầu nước ngoài với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc giữa Nhà thầu nước ngoài với Nhà thầu phụ nước ngoài để thực hiện một phần công việc của Hợp đồng nhà thầu…” Căn cứ quy định nêu trên: Trường hợp Nhà thầu nước ngoài có phát sinh thu nhập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thỏa thuận, hoặc cam kết giữa Nhà thầu nước ngoài với tổ chức, cá nhân Việt Nam thì thu nhập của nhà thầu nước ngoài thuộc đối tượng chịu thuế nhà thầu theo quy định tại Điều 1 Thông tư số 103/2014/TT-BTC. Nội dung vướng mắc của Độc giả về việc mở tài khoản ngân hàng của nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam không thuộc thẩm quyền của cơ quan Thuế, đề nghị Độc giả liên hệ với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để được hướng dẫn. Trường hợp còn vướng mắc về chính sách thuế, đề nghị Độc giả liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được giải đáp cụ thể.
Kính gửi Bộ Tài chính! Chúng tôi là nhà thầu xây dựng có vốn 100% đầu tư từ nước ngoài dưới hình thức Công ty TNHH một thành viên, được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
Hiện nay, chúng tôi đang thực hiện hợp đồng cho công tác thi công xây dựng công trình cho dự án với Chủ đầu tư là doanh nghiệp chế xuất. Theo hợp đồng, một số thiết bị công trình (sau này tạo thành tài sản cố định cho Chủ đầu tư) sẽ được nhập khẩu từ nước ngoài về Việt Nam để lắp đặt cho dự án theo thiết kế và thuế nhập khẩu cho những thiết bị công trình này sẽ được miễn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng nói trên, chúng tôi có ký các hợp đồng thầu phụ với các nhà thầu phụ (trong nước) cho một số phần việc tương ứng với phạm vi công việc theo hợp đồng chính.
Theo đó, nhà thầu phụ sẽ nhập khẩu một số vật tư, thiết bị từ nước ngoài để xây dựng và lắp đặt cho công trình này.
Tôi xin hỏi, trường hợp nhà thầu chính đứng tên nhập các vật tư, thiết bị cho công trình của doanh nghiệp chế xuất, để được hưởng chính sách miễn thuế nhập khẩu của chủ đầu tư, nhà thầu phải làm thủ tục gì? Ngoài ra, còn có các loại thuế khác sẽ áp dụng cho trường hợp này không?
Theo hợp đồng kí kết giữa nhà thầu chính và nhà thầu phụ cho dự án này, nếu nhà thầu phụ nhập vật tư, thiết bị từ nước ngoài vào Việt Nam để xây dựng và lắp đặt cho công trình thì nhà thầu chính và nhà thầu phụ cần phải làm thủ tục gì để được hưởng chính sách miễn thuế nhập khẩu vì những thiết bị công trình này sẽ được lắp đặt vào công trình của chủ đầu tư là doanh nghiệp chế xuất và tạo thành tài sản cố định của chủ đầu tư. Ngoài ra, còn có loại thuế nào khác sẽ áp dụng cho trường hợp này không?
Nếu trong trường hợp 2 nói trên mà nhà thầu phụ phải nộp thuế nhập khẩu cho các thiết bị nhập khẩu đó thì chủ đầu tư có được hoàn thuế nhập khẩu sau này không?
– Căn cứ Thông tư số 103/2014/TT-BTC ngày 06/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam: + Tại Điều 1 quy định về đối tượng áp dụng: “Hướng dẫn tại Thông tư này áp dụng đối với các đối tượng sau (trừ trường hợp nêu tại Điều 2 Chương I): 1. Tổ chức nước ngoài kinh doanh có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Nhà thầu nước ngoài, Nhà thầu phụ nước ngoài) kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thoả thuận, hoặc cam kết giữa Nhà thầu nước ngoài với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc giữa Nhà thầu nước ngoài với Nhà thầu phụ nước ngoài để thực hiện một phần công việc của Hợp đồng nhà thầu. …” + Tại Điều 2 quy định về đối tượng không áp dụng: “Hướng dẫn tại Thông tư này không áp dụng đối với: 1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam theo quy định của Luật Đầu tư, Luật Dầu khí, Luật các Tổ chức tín dụng. 2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện cung cấp hàng hoá cho tổ chức, cá nhân Việt Nam không kèm theo các dịch vụ được thực hiện tại Việt Nam dưới các hình thức: – Giao hàng tại cửa khẩu nước ngoài: người bán chịu mọi trách nhiệm, chi phí, rủi ro liên quan đến việc xuất khẩu hàng và giao hàng tại cửa khẩu nước ngoài; người mua chịu mọi trách nhiệm, chi phí, rủi ro liên quan đến việc nhận hàng, chuyên chở hàng từ cửa khẩu nước ngoài về đến Việt Nam (kể cả trường hợp giao hàng tại cửa khẩu nước ngoài có kèm điều khoản bảo hành là trách nhiệm và nghĩa vụ của người bán). – Giao hàng tại cửa khẩu Việt Nam: người bán chịu mọi trách nhiệm, chi phí, rủi ro liên quan đến hàng hoá cho đến điểm giao[...]
Kính gửi Bộ Tài chính: Tôi tên: Võ Thị Nhí, hiện công tác tại Huyện A, tỉnh Trà Vinh. Qua quá trình công tác tôi có vướng mắc chưa giải quyết, kính mong Bộ Tài chính giúp đỡ. Căn cứ điểm b, khoản 2, điều 5 Thông tư 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 nêu rõ: “b) Đối với cán bộ, công chức, viên chức không có tiêu chuẩn được bố trí xe ô tô khi đi công tác, nhưng nếu đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 10 km trở lên (đối với các xã thuộc địa bàn kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) và từ 15 km trở lên (đối với các xã còn lại) mà tự túc bằng phương tiện cá nhân của mình thì được thanh toán khoán tiền tự túc phương tiện bằng 0,2 lít xăng/km tính theo khoảng cách địa giới hành chính và giá xăng tại thời điểm đi công tác và được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị”. Căn cứ quy định trên nếu đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 15 km trở lên thì được thanh toán khoán tiền tự túc phương tiện, như vậy số km cách trụ sở cơ quan là chỉ tính 1 lượt đi phải đủ từ 15km trở lên, hay số km cách trụ sở cơ quan từ 15 km trở lên là bao gồm lượt đi và lượt về công lại. Ví dụ: Tôi công tác tại Huyện A và đi công tác tại huyện B, khoảng cách từ huyện A đến huyện B là 14 km; như vậy nếu tính số km lượt đi và lượt về thì tôi đi công tác 28 km; tôi muốn hỏi Bộ Tài chính, trường hợp tôi đi công tác như vậy có được thanh toán tiền công tác phí theo quy định đỉểm b, khoản 2, điều 5 Thông tư 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 hay không? Rất mong sự giúp đỡ phản hồi của Bộ Tài Chính để tôi có cơ sở thanh toán đúng theo quy định.
a) Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị; quy định: – Điểm b Khoản 2 (Thanh toán khoán kinh phí sử dụng ô tô khi đi công tác, khoán tiền tự túc phương tiện đi công tác)Điều 5 Thanh toán tiền chi phí đi lại: b) Đối với cán bộ, công chức, viên chức không có tiêu chuẩn được bố trí xe ô tô khi đi công tác, nhưng nếu đi công tác cách trụ sở cơ quan từ 10 km trở lên (đối với các xã thuộc địa bàn kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) và từ 15 km trở lên (đối với các xã còn lại) mà tự túc bằng phương tiện cá nhân của mình thì được thanh toán khoán tiền tự túc phương tiện bằng 0,2 lít xăng/km tính theo khoảng cách địa giới hành chính và giá xăng tại thời điểm đi công tác và được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị. b) Như vậy, căn cứ quy định tại Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính nêu trên; căn cứ quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; đối với cán bộ, công chức, viên chức không có tiêu chuẩn được bố trí xe ô tô khi đi công tác, nhưng nếu đi công tác cách trụ sở cơ quan (01 lượt) từ 10 km trở lên (đối với các xã thuộc địa bàn kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) và từ 15 km trở lên (đối với các xã còn lại) và từ 15 km trở lên (đối với các xã còn lại) mà tự túc bằng phương tiện cá nhân của mình thì được thanh toán khoán tiền tự túc phương tiện theo Thông tư số 40/2017/TT-BTC và được quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.
Kính gửi: Bộ Tài chính; Đơn vị Ban Quản lý chợ Vĩnh Hải, tự đảm bảo chi thường xuyên (đơn vị nhóm 2 – NĐ 60/2021) Theo điều 98- Bộ luật lao động 2019 Điều 98. Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm 1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau: a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; c) Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày. 2. Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường. ,… trong khi tại Thông tư 08/2005/TTLT-BNV-BTC, ngày 05/01/2005 quy định 2. Cách tính trả lương làm thêm giờ: a) Trường hợp làm thêm giờ vào ban ngày, tiền lương làm thêm giờ được tính theo công thức sau: Tiền lương làm thêm giờ vào ban ngày = Tiền lương giờ x 150% hoặc 200% hoặc 300% x Số giờ thực tế làm thêm Trong đó: Mức 150% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày thường; Mức 200% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần; Mức 300% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày lễ hoặc ngày được nghỉ bù nếu ngày lễ trùng vào ngày nghỉ hàng tuần, ngày nghỉ có hưởng lương (trong mức 300% này đã bao gồm cả tiền lương trả cho thời gian nghỉ được hưởng nguyên lương theo quy định tại các Điều 73, 74, 75 và 78 của Bộ luật Lao động). Vậy hiện nay đơn vị áp dụng cách tính nào là đúng? Rất mong được quý bộ giải đáp để đơn vị thực hiện cho đúng. Trân trọng cảm ơn!
– Khoản 2 Điểm II Thông tư liên tịch số 08/2005/TTLT-BNV-BTC ngày 05/1/2005 của liên Bộ Tài chính – Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức có quy định như sau: Trường hợp làm thêm giờ vào ban ngày, tiền lương làm thêm giờ được tính theo công thức sau: Tiền lương làm thêm giờ vào ban ngày = Tiền lương giờ x 150% hoặc 200% hoặc 300% x số giờ thực tế làm thêm. Trong đó: Mức 150% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày thường; Mức 200% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hàng tuần; Mức 300% áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày lễ hoặc ngày được nghỉ bù nếu ngày lễ trùng vào ngày nghỉ hàng tuần, ngày nghỉ có hưởng lương (trong mức 300% này đã bao gồm cả tiền lương trả cho thời gian nghỉ được hưởng nguyên lương theo quy định tại các Điều 73, 74, 75 và 78 của Bộ luật Lao động) – Tại thời điểm năm 2005, các Luật và văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Bộ luật Lao động có hiệu lực vào thời điểm đó là: Bộ luật lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994, Luật của Quốc hội số 35/2002/QH10 ngày 02/4/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động. – Khoản 1 Điều 240 Bộ Luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18/6/2012 quy định về hiệu lực của Bộ luật lao động có nội dung như sau: “1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 05 năm 2013. Bộ luật lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động số 35/2002/QH10, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động số 74/2006/QH11 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động số 84/2007/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực.” – Khoản 1 Điều 220 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 quy định về hiệu lực thi hành có nội dung: “1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021. Bộ luật[...]
