TIN NỔI BẬT
CPA VIETNAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2026CPA VIETNAM nhận Thư cảm ơn từ Hội Thẩm định giá Việt NamCPA VIETNAM tham dự Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 của Đảng bộ Thành phố Hà Nội.Năm 2025 ghi nhận kết quả tăng trưởng rõ nét của thị trường bất động sảnLập báo cáo tài chính hợp nhất của đơn vị kế toán hành chính, sự nghiệpBà Nguyễn Thị Mai Hoa - Đại diện Chi hội Luật gia Viện Nghiên cứu, đào tạo, kinh tế - tài chính lên nhận Cờ thi đua của Hội Luật gia Việt NamThư cảm ơn từ Hiệp hội Kế toán viên Công chứng tỉnh Quảng Đông.CPA VIETNAM tham gia Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Thẩm định giá Việt NamCPA VIETNAM gửi lời chúc Giáng sinhCPA VIETNAM Chúc mừng kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12Hộ kinh doanh không được trừ ngưỡng 500 triệu khi nộp thuế giá trị gia tăngThực hiện các mục tiêu Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế là nhiệm vụ chung của toàn hệ thống chính trịBáo cáo minh bạch cập nhật thông tin đến ngày 19 tháng 12 năm 2025.Vụ chuyển nhượng “đất vàng” trái phép: Kiến nghị chấn chỉnh hoạt động thẩm định giáThủ tướng Chính phủ: Cần kiểm soát giá bất động sảnBộ Xây dựng trả lời về nguyên nhân khiến giá bất động sản tăng caoThủ tướng chỉ đạo sớm lập Sàn giao dịch vàng quốc gia và phát hành trái phiếu dự án, công trình trọng điểmThị trường phân hóa tích cực, thanh khoản tiếp tục giảm mạnhPhổ biến quy định phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực bảo hiểmĐổi mới tư duy, xây dựng chính sách tài sản công sát bám sát thực tiễn

Kính gửi Bộ Tài Chính! Trước đây đơn vị tôi là Trung tâm quản lý và khai thác CTCC bên tôi hạch toán kế toán theo TT 107, đến Tháng 12/2019 được UBND tỉnh ra quyết định thành lập Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và CTCC tôi vẫn hạch toán theo TT 107 nhưng khi nộp BCTC năm 2020 theo TT 107 thì KBNN tại huyện báo lại là k nhập được vì đã là BQLDA thì phải lập BCTC theo TT 79 mới thể hiện được nguồn vốn XDCB và các khoản thu từ quản lý dự án. Qua nghiên cứu TT 79 bên tôi thấy phù hợp với đối tượng áp dụng tại điều 2 của TT này và áp dụng. Đến nay STC kiểm tra lại nói là đơn vị tôi mặc dù đã có quyết định thành lập BQLDA nhưng trong quyết định có ghi là đơn vị sự nghiệp nên phải áp dụng chế độ kế toántheo TT 107 mới đúng. Bên tôi có giải thích về BCTC của 107 chưa phù hợp và còn thiếu một số chỉ tiêu về XDCB nhưng phía STC vẫn thống nhất áp dụng chế độ kế toán theo TT 107 và để phù hợp báo cáo về XDCB thì phải nhập song song. Kính mong Bộ Tài Chính có văn bản hướng dẫn rõ ràng và cụ thể hơn để đơn vị áp dụng đồng bộ và đúng quy định. Xin cảm ơn

Nội dung thư độc giả hỏi về trường hợp Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng phải áp dụng Thông tư 107/2017/TT-BTC hay Thông tư 79/2019/TT-BTC. Về vấn đề này Cục Quản lý giám sát Kế toán, Kiểm toán- Bộ Tài chính có ý kiến như sau: 1. Về áp dụng chế độ kế toán: – Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành theo Thông tư số 107/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính, tại Điều 2 “Đối tượng áp dụng” quy định: “1. Thông tư này hướng dẫn kế toán áp dụng cho: Cơ quan nhà nước;đơn vị sự nghiệp công lập, trừ các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp, áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định hiện hành; tổ chức, đơn vị khác có hoặc không sử dụng ngân sách nhà nước (sau đây gọi tắt là đơn vị hành chính, sự nghiệp). 2. Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên vàchi đầu tư được áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp, nếu thực hiện đơn đặt hàng của Nhà nước hoặc có tiếp nhận viện trợ không hoàn lại của nước ngoài hoặc có nguồn phí được khấu trừ, để lại thì phải lập báo cáo quyết toán quy định tại Phụ lục 04 của Thông tư này”. – Theo quy định tại Khoản 2, Điều 21, Nghị định 15/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng: “a) Người đứng đầu cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thành lập Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực để giao làm chủ đầu tư một số dự án và thực hiện quản lý dự án đồng thời nhiều dự án sử dụng vốn đầu tư công thuộc thẩm quyền quản lý của mình. Trường hợp Tổng cục trưởng được Bộ trưởng phân cấp, ủy quyền quyết định đầu tư các dự án đầu tư xây dựng cùng chuyên ngành, hướng tuyến hoặc trong cùng một khu vực hành chính, tùy theo số lượng, quy mô dự án được phân cấp, ủy quyền và điều kiện tổ[...]

Kính gửi Tổng Cục Thuế! Tôi có câu hỏi cho một trường hợp khuôn bán cho nước ngoài nhưng khuôn vẫn để ở Việt Nam để sử dụng sản xuất tiếp. Doanh nghiệp chúng tôi là doanh nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoài kê khai và nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Chúng tôi hiện có một giao dịch phát sinh như sau mong được giải đáp: Có 1 công ty ở nước ngoài là công ty A ký hợp đồng đặt mua của chúng tôi 1 bộ khuôn đúc bằng thép, công ty A này sẽ là bên thanh toán tiền khuôn cho chúng tôi, tuy nhiên khuôn đúc này không giao nhận ra nước ngoài cho công ty A, mà khuôn này đặt tại công ty chúng tôi theo hợp đồng cho mượn để chúng tôi tiếp tục sử dụng để đúc ra sản phẩm nhựa, sản phẩm nhựa được sản xuất từ khuôn này sẽ được chúng tôi xuất bán cho 1 công ty B là doanh nghiệp chế xuất. Bộ khuôn này sau 5 năm sử dụng sẽ xuất trả giao cho công ty A ở nước ngoài. Chúng tôi muốn hỏi khi làm thủ tục xuất bán cho công ty A, bộ khuôn này có được xác định là hàng xuất khẩu áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% hay áp dụng thuế suất thuế GTGT 10% ? Trong trường hợp áp dụng thuế suất thuế GTGT là 10% thì khi chúng tôi làm thủ xuất bán cho công ty A, công ty chúng tôi sẽ phải xuất hóa đơn GTGT 10% và trên tờ khai xuất khẩu cho công ty A thì giá trị hàng hóa xuất khẩu có phải là số tiền đã bao gồm tiền thuế GTGT 10% trên. Chúng tôi rất mong được quý Bộ hướng dẫn và giải đáp thêm. Trân trọng cảm ơn!

– Căn cứ Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng quy định. + Tại Điều 7 quy định về giá tính thuế: “1. Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế GTGT. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT. …" + Tại Khoản 1 Điều 9 quy định về Thuế suất 0% “1. Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài và ở trong khu phi thuế quan; vận tải quốc tế; hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu, trừ các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% hướng dẫn tại khoản 3 Điều này. Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu là hàng hóa, dịch vụ được bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan; hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật. …. b) Dịch vụ xuất khẩu bao gồm dịch vụ cung ứng trực tiếp cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; cung ứng trực tiếp cho tổ chức, cá nhân ở trong khu phi thuế quan và tiêu dùng trong khu phi thuế quan. …. + Tại điểm b khoản 2 Điều 9 quy định điều kiện áp dụng thuế suất 0% đối với dịch vụ xuất khẩu: “b) Đối với dịch vụ xuất khẩu: – Có hợp đồng cung ứng dịch vụ với tổ chức, cá nhân ở nước ngoài hoặc ở trong khu phi thuế quan; – Có chứng từ thanh toán tiền dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng và các chứng từ khác theo quy định của pháp luật; ….” + Tại Điều 11 hướng dẫn thuế suất GTGT 10% như sau: “Điều 11. Thuế suất 10% Thuế suất 10%[...]

Kính gửi: Bộ Tài chính. Hiện tôi đang là Kế toán của Hạt Kiểm lâm Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Tôi muốn hỏi về việc xác định giá khởi điểm để bán đấu giá đối với tài sản là tang vật vi phạm hành chính bị tịch thu: – Theo quy định tại đoạn 2 khoản 3 Điều 12 Thông tư 57/2018/TT-BTC: " Giá trị của tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được xác định theo quy định tại Điều 60 Luật Xử lý vi phạm hành chính là giá khởi điểm để tổ chức đấu giá. Trong các trường hợp sau đây phải thành lập Hội đồng để xác định giá khởi điểm: Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính khi chuyển giao để đấu giá chưa được xác định giá trị; thời điểm dự kiến tổ chức đấu giá vượt quá 60 ngày, kể từ ngày xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 60 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; giá trị tang vật đã được xác định theo quy định tại Điều 60 của Luật Xử lý vi phạm hành chính chênh lệch (cao hơn hoặc thấp hơn) từ 10% trở lên so với giá của tài sản cùng loại theo thông báo giá của Sở Tài chính tại thời điểm chuyển giao để đấu giá. Thành phần Hội đồng, nguyên tắc hoạt động của Hội đồng xác định giá khởi điểm để đấu giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Điều 8 Thông tư số 144/2017/TT-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (sau đây gọi là Thông tư 144/2017/TT-BTC)." – Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 24 Nghị định 151/2017/NĐ-CP: "Đối với tài sản công không thuộc phạm vi quy định tại điểm a khoản này, người đứng đầu cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức bán tài sản quy định tại khoản 3 Điều 23 Nghị định này thành lập Hội đồng để xác định giá khởi điểm theo hướng dẫn của Bộ Tài chính hoặc thuê tổ chức có đủ điều kiện hoạt động thẩm định giá xác định để làm căn cứ quyết định giá khởi điểm". Vậy, tôi muốn hỏi, đối với tài sản là tang vật vi phạm hành chính bị tịch thu, đơn vị tôi thuê tổ chức có đủ điều kiện hoạt động thẩm định giá xác định để làm căn cứ quyết định giá khởi điểm bán đấu giá như quy định đối với tài sản công thì có đúng quy định không? Và chi phí thuê này có được đưa vào chi phí hợp lý về xử lý tài sản không? Rất mong nhận được phúc đáp của Bộ! Trân trọng cảm ơn!

– Tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 1; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 24 Nghị định số 151/2017/NĐ-CP ngày 26/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản công quy định: “Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 1. Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 về các nội dung sau: a) Thẩm quyền, trình tự, thủ tục quyết định: Giao, mua sắm, thuê, xử lý tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị;…; b) Quản lý vận hành, chuyển đổi công năng sử dụng tài sản công; …; xử lý tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị và quản lý, sử dụng số tiền thu được từ khai thác, xử lý tài sản công tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị; Điều 24. Bán tài sản công theo hình thức đấu giá 1. Việc bán tài sản công phải thực hiện công khai theo hình thức đấu giá, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Nghị định này. 2. Xác định giá khởi điểm: b) Đối với tài sản công không thuộc phạm vi quy định tại điểm a khoản này, người đứng đầu cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức bán tài sản quy định tại khoản 3 Điều 23 Nghị định này thành lập Hội đồng để xác định giá khởi điểm theo hướng dẫn của Bộ Tài chính hoặc thuê tổ chức có đủ điều kiện hoạt động thẩm định giá xác định để làm căn cứ quyết định giá khởi điểm.” – Tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 29/2018/NĐ-CP ngày 05/3/2018 của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản và xử lý đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân quy định: “Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 1. Nghị định này quy định về: b) Xử lý đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân.” – Tại điểm a khoản 3 Điều 12 Thông tư số[...]

Kính gửi: Bộ Tài chính Công ty chúng tôi là công ty thương mại xuất bán trực tiếp cho các trang trại chăn nuôi và các khách hàng khác, chuyên kinh doanh Các loại máy, thiết bị chuyên dùng khác phục vụ cho sản xuất nông nghiệp như: -Xi lanh (bơm tiêm) các loại; dây truyền dịch; dẫn tinh quản các loại; dây gieo tinh; đèn sưởi ấm các loại; núm uống các loại; bộ kìm săm số tai; thẻ đeo tai lợn bò các loại; kim tiêm các loại; dao mổ Theo như công văn số 1677/BTC-TCT V/v thuế GTGT đối với máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ sản xuất nông nghiệp ngày 29/01/2016 có hướng dẫn Các loại máy, thiết bị chuyên dùng trên thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Tuy nhiên, các hóa đơn đầu vào , nhà cung cấp đều xuất hóa đơn các mặt hàng trên là chịu thuế GTGT 5% or 10%. Chúng tôi có yêu cầu bên họ xuất không chịu thuế nhưng họ nói không được và phải xuất như thế. Vậy chúng tôi muốn hỏi rằng, chúng tôi phải xuất hóa đơn với mức thuế suất là bao nhiêu cho phù hợp với quy định. Các hóa đơn đầu vào của chúng tôi như trên là đã đúng thuế suất hay chưa? Rất mong sớm nhận được phản hồi của BTC. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.

– Căn cứ Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Chính Phủ quy định về Hóa đơn, Chứng từ. + Tại Điều 19.Xử lý hóa đơn có sai sót quy định như sau: “Điều 19.Xử lý hóa đơn có sai sót … 2. Trường hợp hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế đã gửi cho người mua mà người mua hoặc người bán phát hiện có sai sót thì xử lý như sau: … b) Trường hợp có sai: mã số thuế; sai sót về số tiền ghi trên hóa đơn, sai về thuế suất, tiền thuế hoặc hàng hóa ghi trên hóa đơn không đúng quy cách, chất lượng thì có thể lựa chọn một trong hai cách sử dụng hóa đơn điện tử như sau: b1) Người bán lập hóa đơn điện tử điều chỉnh hóa đơn đã lập có sai sót. Trường hợp người bán và người mua có thỏa thuận về việc lập văn bản thỏa thuận trước khi lập hóa đơn điều chỉnh cho hóa đơn đã lập có sai sót thì người bán và người mua lập văn bản thỏa thuận ghi rõ sai sót, sau đó người bán lập hóa đơn điện tử điều chỉnh hóa đơn đã lập có sai sót.        Hóa đơn điện tử điều chỉnh hóa đơn điện tử đã lập có sai sót phải có dòng chữ “Điều chỉnh cho hóa đơn Mẫu số… ký hiệu… số… ngày… tháng… năm”. b2) Người bán lập hóa đơn điện tử mới thay thế cho hóa đơn điện tử có sai sót trừ trường hợp người bán và người mua có thỏa thuận về việc lập văn bản thỏa thuận trước khi lập hóa đơn thay thế cho hóa đơn đã lập có sai sót thì người bán và người mua lập văn bản thỏa thuận ghi rõ sai sót, sau đó người bán lập hóa đơn điện tử thay thế hóa đơn đã lập có sai sót. Hóa đơn điện tử mới thay thế hóa đơn điện tử đã lập có sai sót phải có dòng chữ “Thay thế cho hóa đơn Mẫu số… ký hiệu… số… ngày… tháng… năm”.   Người bán ký số trên hóa đơn điện tử mới điều chỉnh hoặc thay thế cho hóa đơn điện tử[...]

Kính gửi cục thuế. Công ty chúng tôi hoạt động trong lĩnh vực bán buôn, bán lẻ về mặt hàng ghế massage,dụng cụ, máy móc chăm sóc sức khoẻ. Từ ngày 01/08/2022 Công ty chúng tôi phát sinh phí chạy quảng cáo trên trang mạng xã hội Facebook (Meta). Facebook đã tiến hành thu thêm 5% thuế GTGT đối với chi phí quảng cáo của công ty chúng tôi. Để thanh toán chi phí quảng cáo này, công ty chúng tôi có ủy quyền mở tài khoản thẻ tín dụng cho cá nhân là người lao động của công ty, và được quy định cụ thể tại quy chế quản lý tài chính. Hàng kỳ, công ty thực hiện trả lại tiền bằng chuyển khoản vào tài khoản tín dụng cho cá nhân. Vậy: 1. Công ty chúng tôi có được khấu trừ VAT 5% của Meta không? 2. Công ty chúng tôi có được đưa phí quảng cáo trên vào chi phí được trừ không? 3. Nếu trường hợp không được khấu trừ VAT 5% và chi phí quảng cáo trên không được đưa vào chi phí hợp lệ thì cần những điều kiện gì để được khấu trừ VAT 5% và chi phí trên được tính là hợp lệ? Rất mong nhận được sự giải đáp của Quý cơ quan. Xin trân thành cảm ơn!

Căn cứ Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC) như sau: “Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế 1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. b) Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật. c) Khoản chi nếu có hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế giá trị gia tăng. …” Căn cứ khoản 10 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 15 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 và Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính) như sau: “Điều 15.Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào 1.Có hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam. 2.Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ các trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá[...]

Kính gửi bộ tài chính! Đơn vị tôi là đơn vị sự nghiệp (Hạt quản lý đê) trong lĩnh vực đê điều có hợp đồng dưới 100 triệu từ nguồn ngân sách huyện. Đơn vị có hợp đồng sửa chữa mặt đê vì là tu sửa nhỏ nên đơn vị đã căn cứ hợp đồng theo thông tư 65/2021/TT-BTC ngày 29/07/2021 vì đây là nguồn kinh phí thuộc ngân sách huyện và được phòng tài – chính kế hoạch hướng dẫn thực hiện theo thông tư 65/2021/TT-BTC và đơn vị đã thực hiện các hợp đồng trước đó từ tháng 03/2022 đến tháng 7 năm 2022. Đến tháng 8 năm 2022 đơn vị thanh toán 1 hợp đồng sửa chữa mặt đê khi chuyển hồ sơ đến kho bạc nhà nước thị xã Kinh Môn yêu cầu đơn vị phải thực hiện hợp đồng căn cứ theo thông tư 68/2020/TT-BTC ngày 15/07/2020 thông tư quy định quản lý, sử dụng và thanh quyết toán Kinh phí chi thường xuyên thực hiện duy tu, bảo dưỡng đê điều và xử lý sự cố cấp bách đê điều. Theo thông tư 68/2020/TT-BTC thì đơn vị không phải thực hiện nguồn vốn duy tu, bảo dưỡng đê điều và xử lý sự cố cấp bách đê điều. Mà đơn đơn vị sử dụng kinh phí của huyện để thực hiện việc tu sửa nhỏ theo hướng dẫn của phòng tài chính – kế hoạch nên đơn vị không phải áp dụng thông tư 68/2020/TT-BTC như kho bạc yêu cầu, mà chỉ áp dụng thông tư 65/2021/TT-BTC. Nên đơn vị gửi yêu cầu đề nghị bộ tài chính trả lời giúp đơn vị là đơn vị phải thực hiện hợp đồng theo thông tư 65/2021/TT-BTC hay phải thực hiện việc sửa chữa theo thông tư 68/2020/TT-BTC. Tôi xin trân trọng cảm ơn!

–  Về hồ sơ, thủ tục kiểm soát thanh toán: đối với khoản nâng cấp, cải tạo sửa chữa, mở rộng cơ sở vật chất được thực hiện theo quy định tại Khoản 6 Điều 7 Nghị định số 11/2020/NĐ-CP ngày 20/01/2020 quy định thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Kho bạc Nhà nước. –  Về công tác kiểm soát chi: thực hiện theo quy định tại Thông tư số 62/2020/TT-BTC ngày 22/6/2020  của Bộ Tài chính hướng dẫn kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN. –  Về trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước trong kiểm soát thanh toán được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 11/2020/NĐ-CP ngày 20/01/2020 của Chính phủ và Điều 9 Thông tư số 62/2020/TT-BTC ngày 22/6/2020 của Bộ Tài chính hướng dẫn kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN. Như vậy, việc kiểm soát chi của Kho bạc Nhà nước căn cứ trên dự toán được cấp có thẩm quyền giao và hợp đồng đã ký của đơn vị với nhà thầu, các hồ sơ khác theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 11/2020/NĐ-CP ngày 20/01/2020 của Chính phủ. Đối với vướng mắc của độc giả đề nghị độc giả trao đổi trực tiếp với cơ quan chủ quản cấp trên và cơ quan tài chính đồng cấp để được hướng dẫn thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị độc giả nghiên cứu thực hiện.