Kính gửi các anh chị Tổng cục thuế! Mong các anh chị giải đáp câu hỏi này giúp em với ạ! Bên em có 2 hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế xuất từ tháng 3 2022 về cũng 1 công ty đã khai thuế, đã gửi cho khách hàng, hiện tại khách hàng muốn xuất lại hóa đơn thay đổi tên hàng hóa dịch vụ giữa hai hóa đơn này, ngoài ra 1 hóa đơn khách còn muốn thay đổi cả tên công ty, địa chỉ, mst. Vậy theo thông tư 78/2021/TT-BTC bên e có thể hủy 2 hóa đơn cũ đi và xuất thay thể hóa đơn mới hay không hay chỉ được xuất hóa đơn điều chỉnh. Và nếu xuất hóa đơn điều chỉnh thì điều chỉnh cụ thể như nào ạ? Trong trường hợp được hủy hóa đơn đi thì thuế Quý I bên em cần khai bổ sung đúng không ạ. Em rất mong nhận được sự phản hồi sớm của Quý các anh chị để bên công ty e có hướng giải quyết đúng nhất. Em cảm ơn các anh chị rất nhiều!
– Căn cứ Nghị định số 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ: + Tại Điều 19 quy định về xử lý hóa đơn có sai sót: “Điều 19. Xử lý hóa đơn có sai sót … 2. Trường hợp hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế đã gửi cho người mua mà người mua hoặc người bán phát hiện có sai sót thì xử lý như sau: a) Trường hợp có sai sót về tên, địa chỉ của người mua nhưng không sai mã số thuế, các nội dung khác không sai sót thì người bán thông báo cho người mua về việc hóa đơn có sai sót và không phải lập lại hóa đơn. Người bán thực hiện thông báo với cơ quan thuế về hóa đơn điện tử có sai sót theo Mẫu số 04/SS-HĐĐT Phụ lục IA ban hành kèm theo Nghị định này, trừ trường hợp hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế có sai sót nêu trên chưa gửi dữ liệu hóa đơn cho cơ quan thuế. b) Trường hợp có sai: mã số thuế; sai sót về số tiền ghi trên hóa đơn, sai về thuế suất, tiền thuế hoặc hàng hóa ghi trên hóa đơn không đúng quy cách, chất lượng thì có thể lựa chọn một trong hai cách sử dụng hóa đơn điện tử như sau: b1) Người bán lập hóa đơn điện tử điều chỉnh hóa đơn đã lập có sai sót. Trường hợp người bán và người mua có thỏa thuận về việc lập văn bản thỏa thuận trước khi lập hóa đơn điều chỉnh cho hóa đơn đã lập có sai sót thì người bán và người mua lập văn bản thỏa thuận ghi rõ sai sót, sau đó người bán lập hóa đơn điện tử điều chỉnh hóa đơn đã lập có sai sót. Hóa đơn điện tử điều chỉnh hóa đơn điện tử đã lập có sai sót phải có dòng chữ “Điều chỉnh cho hóa đơn Mẫu số… ký hiệu… số… ngày… tháng… năm”. b2) Người bán lập hóa đơn điện tử mới thay thế cho hóa đơn điện tử có sai sót trừ trường hợp người bán và người mua có thỏa thuận về việc lập văn bản[...]
Kính gửi Bộ Tài chính: E đang công tác tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện, đơn vị e là đơn vị tự chủ về tài chính, thuộc nhóm II theo TT 72/2017/TT-BTC ngày 17/7/2017 của Bộ Tài chính. (Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện là đơn vị tự chủ theo Quyết định số 926/QĐ-UBND ngày 10/5/2016 của UBND huyện, về việc kiện toàn Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện trên cơ sở Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng; Quyết định số 3633/QĐ-UBND ngày 31/12/2020 của UBND huyện, về việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập và giao quyền tự chủ về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp giai đoạn 2021 – 2023). Căn cứ Khoản 2 Điều 16 của Thông tư 72/2017/BTC ngày 17/7/2017 của Bộ Tài chính, Quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Ban e đã xây dựng và quy định rõ trong Quy chế chi tiêu nội bộ mức chi tiếp khách năm 2021 là không quá 500.000đ/ người/suất, và 1 số hóa đơn e thanh toán ở mức 400.000đ-420.000đ/người/ suất “Điều 16. Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính 2. Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi thường xuyên quy định tại khoản 1 Điều 17 Thông tư này, Giám đốc BQLDA nhóm II được quyết định một số mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý cụ thể như sau: a) Đối với các nội dung chi đã có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: căn cứ vào khả năng tài chính, Ban QLDA được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị." Nay đoàn thanh tra của Kho bạc Nhà nước tỉnh thanh tra chứng từ thanh toán chi phí quản lý dự án chi thường xuyên của Ban e năm 2021 họ Dự thảo kết luận thanh tra rằng " đơn vị thanh toán vượt định mức chi tiếp khách theo khoản 1, điều 31, TT 71/2018/TT-BTC ngày 10/8/2018 và Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐND, ngày 12/7/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh (tối đa 300.000đ/suất)" và đoàn thanh tra yêu cầu xuất toán số chênh lệch vượt mà ban e đã thanh toán. Vì đơn vị e là đơn vị tự chủ về tài chính Vậy cho e hỏi yêu cầu của đoàn thanh tra đề nghị xuất toán như vậy có đúng không ạ? E rất mong được Bộ Tài chính hồi đáp sớm. E xin chân thành cảm ơn ạI
1. Ngày 17/7/2017, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 72/2017/BTC quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; theo đó tại khoản 2 Điều 16 quy định: “2. Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi thường xuyên quy định tại khoản 1 Điều 17 Thông tư này, Giám đốc BQLDA nhóm II được quyết định một số mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý cụ thể như sau: a) Đối với các nội dung chi đã có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: căn cứ vào khả năng tài chính, Ban QLDA được quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị; b) Đối với các nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: căn cứ tình hình thực tế và nhu cầu chi của đơn vị, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình." 2. Ngày 08/12/2021, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 108/2021/TT-BTC (Thông tư này có hiệu lực từ 24/1/2022) quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động tư vấn, quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn đầu tư công đã bãi bỏ Thông tư số 72/2017/BTC; theo đó, tại khoản 1, 2 Điều 1 Thông tư quy định vềphạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng: “1. Phạm vi điều chỉnh: a) Thông tư này quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động tư vấn, quản lý dự án đầu tư công của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án (BQLDA). b) Việc quản lý, sử dụng các khoản thu, chi của các dự án đầu tư không phải là đầu tư công của các chủ đầu tư, BQLDA không thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư này.[...]
Kính gửi Bộ Tài chính -Tổng cục thuế Trong năm 2021 công ty chúng tôi có kê khai tờ khai thuế giá trị gia tăng tháng 12/2021. Nhưng do sai sót đánh máy mà kế toán nhập sai số thuế giá trị gia tăng đầu vào chỉ tiêu 25 trên tờ khai thuế và thuế giá trị gia tăng đầu ra chỉ tiêu 33 trên tờ khai thuế. Công ty đã thực hiện khai bổ sung chỉ tiêu 33 trên tờ khai thuế nhưng do chỉ tiêu 25 không được kê khai bổ sung ở kỳ khai thuế tháng 12/2021 dẫn đến trong tháng 12/2021 công ty phát sinh số thuế phải nộp là rất lớn và công ty sẽ bị tính tiền chậm nộp. Lỗi này ảnh hưởng lớn tới công ty chúng tôi vì số tiền thuế GTGT phải nộp và tiền phát chậm nộp. Vậy tôi muốn hỏi để tránh dẫn đến thiệt hại cho công ty chúng tôi chúng tôi có quyền gửi công văn yêu cầu cục thuế hủy tờ khai sai trong tháng 12/2021 để công ty chúng tôi được quyền khai lại và nộp lại tờ khai đúng theo quy định để không phát sinh khoản thuế GTGT phải nộp và khoản chậm nộp hay không? Tôi xin chân thành cảm ơn
Căn cứ Điều 47 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 quy định khai bổ sung hồ sơ khai thuế: “1. Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai, sót thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế trong thời hạn 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có sai, sót nhưng trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định thanh tra, kiểm tra. … 4. Hồ sơ khai bổ sung hồ sơ khai thuế bao gồm: a) Tờ khai bổ sung; b) Bản giải trình khai bổ sung và các tài liệu có liên quan. …”; Căn cứ Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế; quy định hồ sơ khai thuế: “… 4. Người nộp thuế được nộp hồ sơ khai bổ sung cho từng hồ sơ khai thuế có sai, sót theo quy định tại Điều 47 Luật Quản lý thuế và theo mẫu quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Người nộp thuế khai bổ sung như sau: … b) Người nộp thuế khai bổ sung dẫn đến tăng số thuế phải nộp hoặc giảm số thuế đã được ngân sách nhà nước hoàn trả thì phải nộp đủ số tiền thuế phải nộp tăng thêm hoặc số tiền thuế đã được hoàn thừa và tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước (nếu có). …”. Căn cứ các quy định trên, nếu phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho cơ quan thuế có sai, sót thì việc khai bổ sung hồ sơ khai thuế thực hiện theo quy định tại Điều 47 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và Điều 7 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP nêu trên.
Kính gửi Bộ Tài chính, tôi có thắc mắc về điều kiện dự thi chứng chỉ hành nghề kế toán. Theo Điều 4, Thông tư 91/2017/TT-BTC quy định về việc quản lý, thi cử cũng như cấp chứng chỉ hành nghề kế toán, kiểm toán có điều kiện về bằng cấp như sau: "Bằng tốt nghiệp đại học các chuyên ngành khác với tổng số đơn vị học trình (hoặc tiết học) các môn học: Tài chính, Kế toán, Kiểm toán, Phân tích hoạt động tài chính, Thuế từ 7% trở lên trên tổng số học trình (hoặc tiết học) cả khóa học;". Tôi có bằng Cử nhân Quản trị Kinh doanh – Đại học Kinh tế Quốc dân. Chương trình học tổng cộng 130 tín chỉ, trong đó có các môn học liên quan đến Tài chính, Kế toán, Kiểm toán, Phân tích hoạt động tài chính, Thuế là: Nguyên lý kế toán (3 tín chỉ), Lý thuyết tài chính tiền tệ (3 tín chỉ), Quản trị tài chính (3 tín chỉ), Thị trường chứng khoán (2 tín chỉ). Các môn học trên có hợp lệ để được tính trên 7% tổng số học trình không? Nếu không tính môn Thị trường chứng khoán, 3 môn còn lại tôi đã học đạt 9/130=6.9% thì có đạt điều kiện về bằng cấp để dự thi chứng chỉ hành nghề kế toán không? Mong sớm được Bộ Tài chính giải đáp. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Khoản 2, Điều 4 Thông tư số 91/2017/TT-BTC ngày 31/8/2017 của Bộ Tài chính quy định về việc thi, cấp, quản lý chứng chỉ kiểm toán viên và chứng chỉ kế toán viên có quy định cụ thể về điều kiện văn bằng, chứng chỉ để dự thi lấy chứng chỉ kiểm toán viên, chứng chỉ kế toán viên: “2. Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên về chuyên ngành Tài chính, Ngân hàng, Kế toán, Kiểm toán; hoặc có bằng tốt nghiệp đại học các chuyên ngành khác với tổng số đơn vị học trình (hoặc tiết học) các môn học: Tài chính, Kế toán, Kiểm toán, Phân tích hoạt động tài chính, Thuế từ 7% trở lên trên tổng số học trình (hoặc tiết học) cả khóa học; hoặc có bằng tốt nghiệp đại học các chuyên ngành khác và có văn bằng, chứng chỉ hoàn thành các khoá học do Tổ chức nghề nghiệp quốc tế về kế toán, kiểm toán cấp bảo đảm các quy định tại Điều 9 Thông tư này;” Theo thông tin tại câu hỏi và căn cứ quy định trên, môn thị trường chứng khoán không thuộc một trong các môn học: tài chính, kế toán, kiểm toán, phân tích hoạt động tài chính, thuế. Các môn: nguyên lý kế toán (3 tín chỉ), lý thuyết tài chính tiền tệ (3 tín chỉ), quản trị tài chính (3 tín chỉ) thuộc môn học tài chính, kế toán và đạt 6,9% trên tổng số học trình cả khóa học. Như vậy, bà Diệp không đủ điều kiện để dự thi chứng chỉ kiểm toán viên, chứng chỉ kế toán viên.
Phó Thống đốc Đào Minh Tú: Tiền ảo Bitcoin không phải tiền thanh toán hợp pháp tại Việt Nam
Phó Thống đốc khẳng định tiền ảo Bitcoin, các loại giống như tiền ảo không phải tiền pháp quy, không phải tiền điện tử và càng không phải tiền thanh toán hợp pháp trên đất nước Việt Nam.NHNN đang nghiên cứu rất kỹ, toàn diện vấn đề tiền ảo để chuẩn bị cho việc hoàn thiện dự thảo Luật trình Quốc hội trong kỳ họp sắp tới.
Th8
Phó Thống đốc Đào Minh Tú: Tiền ảo Bitcoin không phải tiền thanh toán hợp pháp tại Việt Nam
Phó Thống đốc khẳng định tiền ảo Bitcoin, các loại giống như tiền ảo không phải tiền pháp quy, không phải tiền điện tử và càng không phải tiền thanh toán hợp pháp trên đất nước Việt Nam.NHNN đang nghiên cứu rất kỹ, toàn diện vấn đề tiền ảo để chuẩn bị cho việc hoàn thiện dự thảo Luật trình Quốc hội trong kỳ họp sắp tới.
Th8
