TIN NỔI BẬT
Đề xuất bỏ thẩm định giá lại đối với dự án điều chỉnh 1/500, đã hoàn thành nghĩa vụ tài chínhCông bố 277 doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026Nhân viên Lái xe (Làm việc tại Hà Nội)6 đơn vị không đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026INFOGRAPHIC: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2025Các ngân hàng có thể tăng trưởng tới 20% trong năm 2026Ngân hàng dự kiến siết chặt tiêu chí tài sản bảo đảm và xếp hạng tín nhiệmQuý 4/2025 xác lập kỷ lục mới về nguồn cung căn hộ tại Hà Nội và TP.Hồ Chí MinhNgân hàng Nhà nước yêu cầu gửi báo cáo trạng thái vàng hàng ngày trước 14 giờ hôm sauGiao dịch điều chỉnh nhẹ về khối lượng, giá trị vẫn được duy trìLãi suất liên ngân hàng giảm sâu sau một tuầnTinh gọn thủ tục, liên thông dữ liệu trong lĩnh vực tài chínhBộ Tài chính yêu cầu triển khai đồng bộ giải pháp ổn định giá dịp Tết Bính Ngọ 2026Thị trường bất động sản sôi động dịp cuối nămNgười hành nghề chứng khoán phải tập huấn kiến thức hằng nămDự báo lợi nhuận ngân hàng năm 2025: Chất lượng quyết định "cuộc chơi"Thêm ngân hàng triển khai giải pháp số hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi, thực hiện nghĩa vụ thuếLoạt chính sách đất đai mới có hiệu lực từ 2026: Người dân hưởng lợi, doanh nghiệp gỡ khóCPA VIETNAM tổ chức Tổng kết hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026CPA VIETNAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI 2026

Công ty tôi đăng ký 2 chương trình khuyến mại với Sở công thương (theo quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 9 Nghị định 81/2018/NĐ-CP ngày 22/05/2018) cụ thể như sau: – Chương trình khuyến mại Tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử không thu tiền (không kèm theo điều kiện mua hàng hóa) – Chương trình khuyến mại Tặng hàng hóa không thu tiền có kèm theo việc mua bán hàng hóa. Công ty xuất hàng khuyến mại ứng trước cho Nhà phân phối là các Hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán (Công ty xuất Hóa đơn cho Nhà phân phối, trong đó có hàng khuyến mại, giá tính thuế bằng 0). Nhà phân phối có trách nhiệm xuất hàng khuyến mại cho các khách lẻ. Công ty căn cứ số liệu bán hàng của nhà phân phối để quyết toán số lượng khuyến mại hàng tháng. Tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 40/2021/TT-BTC quy định Nguyên tắc tính thuế: Nguyên tắc tính thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành về thuế GTGT, thuế TNCN và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Khoản 5 Điều 7 Thông tư 219/2013/TT-BTC quy định “Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại, giá tính thuế được xác định bằng không (0)” Tại khoản 1 Điều 10 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hướng dẫn: Doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu tính thuế TNCN đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là doanh thu bao gồm cả các khoản khuyến mại, chiết khấu thương mại mà hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.” Xin hỏi Công ty có phải khai thuế thay, nộp thuế thay thuế GTGT và thuế TNCN khi xuất hàng khuyến mại cho hộ kinh doanh trên không?. Trường hợp phải kê khai và nộp thuế thay thì Doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu tính thuế TNCN sẽ được xác định như thế nào? (Vì sản phẩm dùng để khuyến mại theo quy định giá tính thuế bằng 0).

– Tại Điều 92 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/06/2005 của Quốc Hội quy định: “Điều 92. Các hình thức khuyến mại 2. Tặng hàng hóa cung ứng dịch vụ không thu tiền” – Tại Điều 9 Nghị định 81/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại: “Điều 9. Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền Thương nhân thực hiện khuyến mại tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền theo cách thức sau: 1. Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền có kèm theo việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; 2. Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền không kèm theo việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.” – Tại điểm đ khoản 5 Điều 7 Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định một số điều của Luật Quản lý thuế như sau: “…đ) Tổ chức chi trả các khoản thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, chi hỗ trợ bằng tiền hoặc không bằng tiền cho cá nhân là các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán thì tổ chức có trách nhiệm khai thuế thay và nộp thuế thay cho cá nhân theo quy định”. – Tại điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư 111/2012/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn: “Điều 2. Các khoản thu nhập chịu thuế Theo quy định tại Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân và Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, các khoản thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân bao gồm: 1. Thu nhập từ kinh doanh Thu nhập từ kinh doanh là thu nhập có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực sau: a) Thu nhập từ sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật như: sản xuất, kinh doanh hàng hóa; xây dựng; vận tải; kinh doanh ăn uống; kinh doanh dịch vụ, kể cả dịch vụ cho thuê nhà, quyền sử dụng đất, mặt nước, tài sản khác.” – Tại khoản 5 Điều 7 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn : 5. Đối với sản phẩm,[...]

Kính hỏi Bộ Tài chính. – Theo quy định tại điểm c, khoản 1 điều 17 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ “Ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học và công nghệ. Ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã được chi cho nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao công nghệ”. – Tại điều 64 Luật Ngân sách nhà nước và Điều 43 Nghị định 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ quy định các nội dung chuyển nguồn sang năm sau “Kinh phí nghiên cứu khoa học bố trí cho các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học được cấp thẩm quyền quyết định đang trong thời gian thực hiện”. Từ những quy định nêu trên, kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở (cấp huyện chỉ thực hiện ứng dụng khoa học công nghệ) thì không được chuyển nguồn sang năm sau theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, chỉ có kinh phí nghiên cứu khoa học và công nghệ mới được chuyển nguồn sang năm sau. Trường hợp hết năm ngân sách, các nhiệm vụ ứng dụng khoa học chưa hoàn thành phải tiếp tục thực hiện vào năm sau, đơn vị trình cấp thẩm quyền xem xét phân bổ lại để tiếp tục triển khai thực hiện. Kính hỏi Bộ Tài chính nhận định trên là đúng hay sai? Kinh phí của các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở (cấp huyện) có được chuyển nguồn hay không?

Tại điểm c, khoản 1, Điều 39 Luật NSNN quy định: “Ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học và công nghệ”. Tại điểm c, Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 163/2016/NĐ-CP quy định: “Ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học và công nghệ. Ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã được chi cho nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao công nghệ”. Như vậy, ngân sách cấp huyện, xã không có nhiệm vụ chi nghiên cứu khoa học và công nghệ chỉ có chi cho nhiệm vụ ứng dụng, chuyển giao công nghệ. Tại Điều 43 Nghị định 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 của Chính phủ quy định chuyển nguồn ngân sách từ năm trước sang năm sau: “Điều 43. Chuyển nguồn ngân sách từ năm trước sang năm sau 1. Các khoản dự toán chưa thực hiện hoặc chưa chi hết, các khoản đã tạm ứng trong dự toán, số dư tài khoản tiền gửi đến hết thời gian chỉnh lý quyết toán chưa thực hiện được hoặc chưa sử dụng hết, được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng gồm:a) Chi đầu tư phát triển thực hiện chuyển sang năm sau theo quy định của Luật Đầu tư công. Trường hợp đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ quyết định về việc cho phép chuyển nguồn sang năm sau nữa, nhưng không quá thời hạn giải ngân của dự án nằm trong kế hoạch đầu tư công trung hạn; b) Chi mua sắm trang thiết bị đã đầy đủ hồ sơ, hợp đồng mua sắm trang thiết bị ký trước ngày 31 tháng 12 năm thực hiện dự toán; chi mua tăng, mua bù hàng dự trữ quốc gia; c) Nguồn thực hiện chính sách tiền lương, phụ cấp, trợ cấp và các khoản tính theo tiền lương cơ sở, bảo trợ xã hội; d) Kinh phí được giao tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập và các cơ quan nhà nước; các khoản viện trợ không hoàn lại đã xác định cụ thể nhiệm vụ chi; đ) Các khoản dự toán được cấp có thẩm quyền bổ sung sau ngày 30 tháng 9 năm thực hiện dự toán, không bao gồm các khoản bổ sung do các đơn vị dự toán cấp trên điều chỉnh dự toán đã giao của các đơn vị dự toán trực thuộc; e) Kinh phí nghiên cứu khoa học bố trí[...]

Kính gửi Bộ Tài chính! Căn cứ Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 (Thông tư 107/2017/TT-BTC ) của Bộ Tài chính, trong đó có hướng dẫn hạch toán kế toán một số hoạt động kinh tế chủ yếu của tài khoản 421 “Thặng dư (thâm hụt) lũy kế” (Phụ lục số 02). Trong quá trình thực hiện, địa phương gặp một số khó khăn, vướng mắc liên quan đến việc hạch toán kế toán từ việc phân phối, trích lập các quỹ từ thặng dư (thâm hụt) của hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Kính đề nghị Bộ tài chính xem xét, hướng dẫn để địa phương thực hiện đúng quy định với nội dung như sau: Các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) có đề án sử dụng tài sản công vào mục đích cho thuê ( Đề án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo Luật Quản lý sử dụng tài sản công ngày 21/6/2017). Do đó phần thặng dư từ hoạt động cho thuê (sau khi đơn vị đã thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước, trích khấu hao và các chi phí hợp lý có liên quan) thì đơn vị được bổ sung và trích lập các quỹ theo các quy định hiện hành. Từ đó có các nghiệp vụ và quan điểm trái chiều như sau: * Quan điểm 1 Căn cứ Thông tư 107/2017/TT-BTC thì nghiệp vụ trích lập các quỹ từ thặng dư từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ được hạch toán như sau: Nợ TK 4212 Có TK 431 * Quan điểm 2 Để cho số liệu quyết toán tại chỉ tiêu 91 về số kinh phí đã sử dụng đề nghị quyết toán) trên biểu B01/BCQT = số liệu trên biểu F01/BCQT (cột 6: nguồn hoạt động khác được để lại) nên hướng dẫn cho đơn vị hạch toán như sau: Nợ TK 642 Có TK 431 Có nghĩa là hạch toán phần trích lập các quỹ từ thặng dư của hoạt động sản xuất kinh doanh đưa vào tài khoản 642 là Chi phí quản lý của hoạt động SXKD, dịch vụ. Từ quan điểm 1 và quan điểm 2 sẽ có những bất cập như sau: – Cách hạch toán theo quan điểm 1 và đúng theo Thông tư 107/2017/TT-BTC thì chỉ tiêu 91 của biểu B01/BCQT sẽ = số liệu ở cột 6 của biểu F01-01 /BCQT (Nguồn hoạt động khác được để lại) + số đã phân phối, trích lập các quỹ từ thặng dư của hoạt động sản xuất kinh doanh. Trường hợp nếu chỉ tiêu 91 trên biểu B01/BCQT chỉ lấy = với số liệu ở cột 6 của biểu F01-01 /BCQT số liệu trên cho chỉ tiêu 94 (số dư kinh phí được phép chuyển sang năm sau sử dụng và quyết toán) trên biểu B01/BCQT chưa trừ đi số đã trích lập các quỹ từ thặng dư của hoạt động sản xuất kinh doanh. Dẫn đến số thặng dư từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ đã được phân phối, trích lập các quỹ và đã sử dụng rồi nhưng số liệu trên cho chỉ tiêu 94 biểu B01/BCQT là số kinh phí còn lại chuyển sang năm sau = số số đã trích lập các quỹ từ thặng dư của hoạt động sản xuất kinh doanh + số kinh phí chưa sử dụng. Với cách hạch toán như trên thì trong những năm qua địa phương đã hướng dẫn các đơn vị trực thuộc Sở hạch toán như thế: vừa phản ảnh được số đã sử dụng phân phối trích lập như đã nêu trên (do không phải là khoản chi phí nên không hạch toán vào tài khoản 642); đồng thời chỉ tiêu 94 của biểu B01/BCQT bằng thực tế với số dư có tài khoản 4212 được phép chuyển sang năm sau. – Hạch toán theo quan điểm 2 sẽ dẫn đến: + Doanh thu = chi phí, như vậy Đề án sử dụng tài sản công sử dụng vào mục đích cho thuê, liên kết được quy định tại Luật Quản lý sử dụng tài sản công không có hiệu quả; + Mặc khác, sẽ làm tăng chi phí quản lý, không đúng nguyên tắc về hạch toán kế toán chi phí quản lý của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; một số hoạt động kinh tế chủ yếu của tài khoản 421 “Thặng dư (thâm hụt) lũy kế; việc kết chuyển doanh thu, chi phí, xác định và phản ánh kết quả các hoạt động của đơn vị hành chính, sự nghiệp trong một kỳ kế toán năm không đúng quy định và hướng dẫn tại Thông tư 107/2017/TT-BTC. Trân trọng kính trình ./.

Nội dung thư độc giả hỏi về (1) Việc hạch toán trích lập Quỹ từ thặng dư hoạt động sản xuất kinh doanh tại ĐVSNCL và (2) Việc quyết toán với hoạt động sản xuất kinh doanh theo Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành kèm Thông tư 107/2017/TT-BTC. Về vấn đề này Cục Quản lý giám sát Kế toán, Kiểm toán- Bộ Tài chính có ý kiến như sau: 1. Về hạch toán trích lập Quỹ: Tại Phụ lục số 02 Thông tư 107, nội dung tài khoản 421- “Thặng dư (thâm hụt) lũy kế” đã quy định nguyên tắc và một số bút toán kết chuyển doanh thu, chi phí, xác định kết quả hoạt động, trích lập Quỹ. Việc trích lập quỹ là việc phân phối kết quả hoạt động cuối năm của đơn vị, không phát sinh trong năm. Đề nghị độc giả nghiên cứu hướng dẫn của Thông tư 107 để thực hiện đúng quy định. 2. Về việc quyết toán với hoạt động sản xuất kinh doanh: Nội dung hướng dẫn lập Báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động (Mẫu B01/BCQT) tại Phụ lục số 04 Thông tư 107 có quy định việc thực hiện quyết toán đối với các nguồn kinh phí, bao gồm: nguồn ngân sách trong nước; nguồn phí được khấu trừ để lại và nguồn hoạt động khác được để lại. Trong đó nguồn kinh phí hoạt động khác được để lại là các khoản thu hoạt động khác phát sinh tại đơn vị được cơ quan có thẩm quyền giao dự toán (hoặc không giao dự toán) và yêu cầu đơn vị phải báo cáo quyết toán theo Mục lục NSNN phần được để lại đơn vị. Do yêu cầu lập BCQT được xây dựng theo quy định của cơ chế tài chính, vì vậy đối với nguồn hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ trong Thông tư 107 không có quy định về việc lập BCQT. Theo đó, các chỉ tiêu trên Báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động (Mẫu B01/BCQT) và Báo cáo chi tiết chi từ nguồn NSNN và nguồn phí được khấu trừ để lại (Phụ biểu F01-01/BCQT) như thư hỏi của độc giả không phản ánh số liệu liên quan đến nguồn hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ. Đề nghị độc giả nghiên cứu thực hiện./.

Kính gửi: Bộ Tài chính. Căn cứ vào Nghị định số 15/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ ban hành Nghị định quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội. Kể từ khi nghị định có hiệu lực đến nay đã được 2 tháng, nhưng rất nhiều doanh nghiệp hiện đang còn vướng mắc trong việc tra cứu mặt hàng nào được giảm thuế và mặt hàng nào không được giảm thuế GTGT. Cùng một mặt hàng nhưng doanh nghiệp này xuất hóa đơn với thuế suất 10%, doanh nghiệp khác lại xuất với thuế suất 8%, cho nên đơn vị cũng đang rất bối rối. Hiện nay đơn vị chúng tôi đang kinh doanh các loại mặt hàng như sau: Sắt thép phế liệu; phoi sắt phế liệu; đồng phế liệu; nhôm phế liệu; bột nhôm phế liệu; xỉ nhôm phế liệu; phoi nhôm phế liệu,; tôn phế liệu; thiếc phế liệu; thùng phuy sắt phế liệu; nhựa phế liệu; thùng nhựa phế liệu; nilon phế liệu; gỗ phế liệu; giấy bìa carton phế liệu, dung dịch vàng phế liệu … Đơn vị xin được hỏi Quý Bộ tài chính 2 câu hỏi như sau: 1- Trong các mặt hàng đơn vị nêu trên thì mặt hàng nào áp dụng thuế suất thuế GTGT 10%, mặt hàng nào áp dụng thuế suất thuế GTGT 8% theo nghị định 15/NĐ-CP? 2- Trong trường hợp đơn vị xuất nhiều mặt hàng trên cùng một hóa đơn cho người mua trong tháng 2/2022, cả người bán và người mua đều đã kê khai thuế, nhưng nay phát hiện hóa đơn đó xuất sai thuế suất thuế GTGT theo nghị định 15/NĐ-CP, giờ phải điều chỉnh tăng thuế của mặt hàng này và giảm thuế của mặt hàng khác của hóa đơn đó thì việc điều chỉnh hóa đơn đó thực hiện như thế nào? Rất mong Bộ Tài chính sớm trả lời những vướng mắc nêu trên để doanh nghiệp biết và thực hiện. Trân trọng cảm ơn Bộ Tài Chính!

Căn cứ Quyết định số 43/2018/QĐ-TTg ngày 01/11/2018 ban hành hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam. Căn cứ Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/1/2022 của Chính phủ quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội: + Tại Điều 1 quy định về giảm thuế giá trị gia tăng: “1. Giảm thuế giá trị gia tăng đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất 10%, trừ nhóm hàng hóa, dịch vụ sau: a) Viễn thông, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, kim loại và sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản phẩm khai khoáng (không kể khai thác than), than cốc, dầu mỏ tinh chế, sản phẩm hóa chất. Chi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. b) Sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Chi tiết tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này. c) Công nghệ thông tin theo pháp luật về công nghệ thông tin. Chi tiết tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này. d) Việc giảm thuế giá trị gia tăng cho từng loại hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng thống nhất tại các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công, kinh doanh thương mại. Đối với mặt hàng than khai thác bán ra (bao gồm cả trường hợp than khai thác sau đó qua sàng tuyển, phân loại theo quy trình khép kín mới bán ra) thuộc đối tượng giảm thuế giá trị gia tăng. Mặt hàng than thuộc Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này, tại các khâu khác ngoài khâu khai thác bán ra không được giảm thuế giá trị gia tăng. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ nêu tại các Phụ lục I, II và III ban hành kèm theo Nghị định này thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng hoặc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng 5% theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng thì thực hiện theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và không được giảm thuế giá trị gia tăng. 2. Mức[...]

Công ty tôi có gia công sang chiết đóng gói thuốc bảo vệ thực vật, có khi thì chỉ gia công bên thuê gia công cung cấp toàn bộ bao bì, khi thì công ty mua bao bì và tính vào giá gia công, và khi công ty mua bao bì thì kê khai thuế đầu vào cho dịch vụ gia công này.

Cho tôi hỏi, hiện mức thuế suất GTGT cho dịch vụ gia công sang chiết đóng gói thuốc bảo vệ thực vật công ty đang xuất cho khách hàng trước đây là 10% là đúng không? Theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP thì có được giảm thuế còn 8% hay không?

– Căn cứ Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng quy định. + Tại Điều 4 quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT + Tại Điều 9 quy định về thuế suất thuế GTGT 0% + Tại Điều 10 quy định về thuế suất thuế GTGT 5% + Tại Điều 11 quy định về thuế suất thuế GTGT 10%: “Điều 11. Thuế suất 10% Thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ không được quy định tại Điều 4, Điều 9 và Điều 10 Thông tư này. Các mức thuế suất thuế GTGT nêu tại Điều 10, Điều 11 được áp dụng thống nhất cho từng loại hàng hóa, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương mại. . . .” – Căn cứ Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ Quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội. + Tại Điều 1 quy định: “Điều 1. Giảm thuế giá trị gia tăng 1. Giảm thuế giá trị gia tăng đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất 10%, trừ nhóm hàng hóa, dịch vụ sau: a) Viễn thông, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, kim loại và sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản phẩm khai khoáng (không kể khai thác than), than cốc, dầu mỏ tinh chế, sản phẩm hoá chất. Chi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. b) Sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Chi tiết tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này. c) Công nghệ thông tin theo pháp luật về công nghệ thông tin. Chi tiết tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này. d) Việc giảm thuế giá trị gia tăng cho từng loại hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này[...]

Kính gửi Bộ Tài chính! Ngày 27/10/2021, tôi đã gửi câu hỏi đề nghị Quý Bộ giải đáp vướng mắc trong việc thực hiện Quyết định số 78/2001/QĐ-TTg, Quyết định số 179/2002/QĐ-TTg, Quyết định số 168/2005/QĐ-TTr của Thủ tướng Chính phủ quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng điện thoại, tuy nhiên, đến nay, tôi chưa nhận được hồi đáp của Quý Bộ. Để tháo gỡ kịp thời vướng mắc trong việc thực hiện quy định pháp luật nêu trên, bảo đảm việc thực hiện về định mức, tiêu chuẩn sử dụng điện thoại đúng quy định pháp luật, tôi xin gửi lại vấn đề vướng mắc và mong nhận được sự quan tâm giải đáp của Quý Bộ. Trân trọng cảm ơn! Tôi xin gửi lại câu hỏi: Kính đề nghị Quý Cơ quan giải đáp vướng mắc trong việc thực hiện quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng điện thoại công vụ quy định tại Quyết định số 17/VBHN-BTC ngày 04/3/2014 của Bộ Tài chính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Quyết định số 17/VBHN-BTC, các đối tượng còn lại (là những chức danh lãnh đạo được quy định tại các điểm h, i k và l khoản 2 Điều Quyết định số 17/VBHN-BTC, trong đó có cán bộ lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ 1,0 và là những người không được trang bị máy điện thoại di động) được cấp tiền khoán cước phí hằng tháng 100.000đ/máy/tháng đối với điện thoại cố định và 250/000đ/tháng đối với điện thoại di động. Vậy, cán bộ lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ 1,0 có được cấp cước phí sử dụng điện thoại hằng tháng theo quy định tại khoản 3 Điều 6 Quyết định số 17/VBHN-BTC, cụ thể được cấp định mức 100.000đ/máy/tháng đối với điện thoại cố định và 250/000đ/tháng đối với điện thoại di động hay không? Rẩt mong sớm nhận được hồi âm của Quý Cơ quan. Trân trọng cảm ơn!

1. Bộ Tài chính có văn bản hợp nhất số 17/VBHN-BTC ngày 03/3/2014 về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động đối với cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội; trong đó: – Tại điểm h khoản 2 Điều 2 Quy định kèm theo có quy định cán bộ lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ từ 1,0 đến dưới 1,2 thuộc Hội đồng các dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Ban thuộc Ủy ban thường vụ quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương thuộc đối tượng được trang bị 01 máy điện thoại cố định tại nhà riêng (trừ các máy điện thoại do cơ quan chức năng trang bị theo yêu cầu đặc biệt.  – Tại Điều 4 quy định: “Ngoài các cán bộ được trang bị điện thoại cố định, điện thoại di động theo quy định tại các Điều 2, 3 của Quy định này. Căn cứ vào tính chất và yêu cầu công tác thực sự cần thiết mà Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; Chủ nhiệm Văn phòng chủ tịch nước và các chức danh tương đương thuộc tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội (đối với các cơ quan thuộc Trung ương); Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể quyết định trang bị điện thoại cho cán bộ trực tiếp đảm nhân các nhiệm vụ đặc biệt, nhưng phải hết sức hạn chế để bảo đảm yêu cầu cần thiết cho công việc và theo nguyên tắc sau đây: Cơ quan, đơn vị phải có Quy chế về trang bị, sử dụng và thanh toán cước phí điện thoại cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ ngoài tiêu chuẩn đã quy định, Quy chế này được xây dựng trên[...]