Kính gửi: Bộ Tài chính! Căn cứ Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 của Bộ Tài chính về việc Hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp, theo đó Bộ Tài chính đã hướng dẫn tài khoản 642 để phản ảnh Chi phí quản lý của hoạt động SXKD, dịch vụ và dùng cho đơn vị sự ngiệp. “1. Nguyên tắc kế toán 1.1 Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí quản lý của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gồm các chi phí về lương, BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN của cán bộ quản lý bộ phận sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động; tiền thuê đất, thuế môn bài; dịch vụ mua ngoài (điện, nước, điện thoại, fax, bảo hiểm tài sản, cháy nổ…); chi phí bằng tiền khác (tiếp khách, hội nghị khách hàng, lệ phí giao thông, lệ phí cầu phà, chi phí phát sinh liên quan đến hàng bán trả lại…) của bộ phận sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không phân bổ được trực tiếp vào từng sản phẩm, nhóm sản phẩm, dịch vụ, nhóm dịch vụ và chi phí khấu hao TSCĐ chỉ sử dụng cho bộ phận quản lý sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. 1.2- Không hạch toán vào Tài khoản 642 các chi phí liên quan trực tiếp đến giá thành sản phẩm, dịch vụ; chi phí tiền lương, BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN của nhân công trực tiếp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; chi phí khấu hao TSCĐ của bộ phận trực tiếp SXKD, dịch vụ.” Và TK 642 có các tài khoản chi tiết như sau – 6421: Chi phí tiền lương, tiền công và chi phí khác cho nhân viên – 6422: Chi phí vật tư, công cụ và dịch vụ đã sử dụng – 6423: Chi phí khấu hao TSCĐ – 6428: Chi phí hoạt động khác – Đồng thời theo quy định tại Điều 18 Nghị định 60/2021/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. “Điều 18. Phân phối kết quả tài chính trong năm Kết thúc năm tài chính, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản thu, chi thường xuyên giao tự chủ, trích khấu hao tài sản cố định, trích lập nguồn cải cách tiền lương theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 16 Nghị định này, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi hoạt động thường xuyên giao tự chủ (nếu có),” Trong quá trình thực hiện, tại địa phương có bị vướng mắc nghiệp vụ như sau: Các đơn vị sự nghiệp công lập có đề án sử dụng tài sản công vào mục đích cho thuê ( Đề án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo Luật Quản lý sử dụng tài sản công ngày 21/6/2017). Số tiền thu được từ việc sử dụng tài sản vào mục đích kinh doanh, sau khi chi trả các chi phí hợp lý có liên quan, trả nợ vốn vay, vốn huy động (nếu có), thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước, phần còn lại, đơn vị sự nghiệp công lập được quản lý, sử dụng theo quy định của Chính phủ về cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó phần thặng dư từ hoạt động cho thuê (sau khi đơn vị đã thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước, trích khấu hao và các chi phí hợp lý có liên quan) thì đơn vị được bổ sung và trích lập các quỹ. Từ đó có các nghiệp vụ và quan điểm trái chiều như sau: 1. Quan điểm 1: Căn cứ Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 thì nghiệp vụ trích lập các quỹ từ thặng dư từ hoạt động cho thuê từ hoạt động sản xuất kinh daonh (trích lập các quỹ từ thặng dư có được sau khi đơn vị đã thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước, trích khấu hao và các chi phí hợp lý có liên quan) được hạch toán như sau: Nợ TK 4212 Có TK 431 2. Quan điểm 2 Nợ TK 642 Có TK 431 (chi tiết các quỹ: quỹ bổ sung thu nhập, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Kính đề nghị Bộ tài chính xem xét hướng dẫn để giúp địa phương thực hiện đúng quy định về công tác hạch toán kế toán. Trân trọng./.
Nội dung thư độc giả hỏi về việc đơn vị hạch toán trích lập quỹ đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành theo Thông tư số 107/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính. Về vấn đề này Cục Quản lý giám sát Kế toán, Kiểm toán- Bộ Tài chính có ý kiến như sau: Theo quy định của Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành theo Thông tư số 107/2017/TT-BTC, tại Phụ lục số 02, nguyên tắc hạch toán tài khoản 421 “Thặng dư (thâm hụt) lũy kế”: “Việc phân phối và sử dụng số thặng dư phải tuân thủ các quy định của chế độ tài chính hiện hành”. Như vậy việc trích lập, sử dụng quỹ đề nghị đơn vị căn cứ vào cơ chế tài chính áp dụng cho đơn vị. Về việc hạch toán đề nghị tham chiếu phần hướng dẫn hạch toán kế toán một số hoạt động kinh tế chủ yếu của tài khoản 421 “Thặng dư (thâm hụt) lũy kế” (Phụ lục số 02, Thông tư 107/2017/TT-BTC), trong đó đã nêu rõ các bút toán hạch toán kết chuyển doanh thu, chi phí và trích lập các quỹ. Đề nghị độc giả nghiên cứu thực hiện./.
Kính gửi: Cục GSBH- BTC. Tôi tên: Dũ Văn Luận. HĐ BHNT số: 10000000023676 tại công ty BVNT Đà Nẵng. Theo thông tin công bố của tổng công ty BVNT trên websites: baovietnhantho.com.vn về việc triển khai chương trình hổ trợ đặc biệt dành cho khách hàng không may mắc covid-19 trong thời gian từ ngày 01/07/2021 – 31/12/2021 hoặc đến khi Việt Nam công bố hết dịch.Theo đó, Bảo Việt chi trả 200% quyền lợi trợ cấp viện phí cơ bản đối với KH nằm viện điều trị do nhiễm SARS-COV-2. Từ ngày 31/07/2021 – 10/08/2021 tôi có nằm viện điều trị covid tại BVDC Thu Dung số 1, TP HCM. Nhưng khi ra viện 10/08/2021, bệnh viện có cấp giấy ra viện nhưng không ghi ngày vào viện, tôi có thắc mắc và không chịu nhận nhưng phía bệnh viện trả lời bây giờ BV chỉ in giấy có ngày ra viện thôi, vì số lượng bệnh nhân lúc này quá đông , quá tải nên bệnh viện không thể in rõ ngày vào viện của từng BN được và bảo bệnh nhân làm việc sau với bác sĩ điều trị. Sau đó,tôi đã liên hệ được với bác sĩ, và xin lại được giấy ra viện có ngày vào viện, nhưng phải gửi bằng bảng scan vì lý do BV phong tỏa, không cho bệnh nhân đến lấy trực tiếp. Lúc này, tôi gửi hồ sơ gồm giấy ra viện ban đầu, giấy ra viện bản scan, kèm với giấy chứng nhận cách ly tại nhà cho công ty Bảo Việt Nhân Thọ Đà Nẵng.(có hình ảnh đính kèm) Ngày 15/9/2021 công ty đã nhận hồ sơ của tôi và đã từ chối giải quyết vì lý do 2 tờ giấy ra viện khác nhau và giấy ra viện cấp lại không đúng theo quy định của bộ Y Tế. Tờ giấy ra viện bản scan này thì có in thông tin ngày vào viện, nhưng lại k có số hồ sơ lưu trữ, và chữ ký chỗ giám đốc bệnh viện được thay bằng phó giám đốc bệnh viện, nhưng vẫn có con dấu mộc đỏ của bệnh viện. Tôi có hỏi bác sĩ về sự khác nhau trên chữ ký của 2 giấy ra viện thì được giải thích là bác sĩ thay phiên nhau từng đợt, không nhất thiết phải giống, và chỉ người có thẩm quyền mới được ký trên giấy ra viện(có hình ảnh tin nhắn kèm theo).Còn về vấn đề giấy ra viện cấp lại không đúng theo quy định cấp lại thì tôi k rõ là bác sĩ và nhân viên bệnh viện không nắm nghiệp vụ hay do trong thời điểm dịch bệnh, bênh viện phải làm như vậy. Chỉ biết là khi tôi nộp 2 giấy này về , Bảo Việt từ chối chi trả và yêu cầu tôi bổ sung và hoàn thiện nộp về lại công ty mới giải quyết. Trong thời gian này, tôi đã đến bệnh viện nhiều lần để xin lại nhưng không thể tiếp cận được do đang trong thời gian dịch bệnh, BV phong tỏa không cho người ngoài vào. Rồi liên hệ lại với bác sĩ điều trị cho tôi khi đó bác cũng đã chuyển công tác, không còn trách nhiệm giải quyết. Mãi đến ngày 10/11/2021, tôi mới nhận được giấy thông báo hoàn trả hồ sơ yêu cầu giải quyết quyền lợi từ BVNT Đà Nẵng. Trong thông báo cũng có nói tôi hoàn tất, cung cấp các giấy tờ hợp lệ trong thời gian 12 tháng kể từ ngày xảy ra rủi ro để được xem xét GQQLBH(có thông báo đính kèm).Sau khi nhận thông báo, tôi cũng có đến lại BV dã chiến Thu Dung số 1, thành phố Hồ Chí Minh nơi tôi nằm viện trước đó nhưng chỗ này hiện đã giải thể. May mắn, những ngày sau đó, tôi đã liên hệ được với sở Y Tế HCM và đã xin lại được giấy ra viện(cấp lại) theo đúng quy định. Ngày 08/12/2021 tôi có nộp lại hồ sơ về Bảo Việt Đà Nẵng nhưng công ty thông báo tạm dừng hổ trợ theo chính sách 200% như trước đây. Việc tạm dừng đột ngột và không có thông báo trước. Bảo Việt đã không thực hiện đúng theo như chính sách đã đưa ra trên website là hổ trợ cho khách hàng trong thời gian từ 01/07/2021 đến hết 31/12/021. Cục GSBH cho tôi hỏi như vậy có đúng hay không. Vấn đề thứ 2, ban đầu tôi nộp hồ sơ về công ty vào ngày 15/09/202 nhưng đến ngày 10/11/2021 tôi mới nhận được thư thông báo hoàn trả hồ sơ, như vậy có quá chậm trễ theo quy định về thời gian giải quyết quyền lợi bảo hiểm được quy định trong điều khoản hợp đồng hay không. Kính gửi CGSBH xem xét cho ý kiến để công ty có hướng giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo chính sách đã công bố trước đó cũng như theo nguyện vọng của khách hàng. Trong khi chờ đợi phản hồi từ cục GSBH-BTC, tôi xin thành thật cảm ơn và trân trọng kính chào.
Bộ Tài chính nhận được câu hỏi của độc giả Dũ Văn Luận qua cổng thông tin điện tử phản ánh việc thực hiện chi trả quyền lợi nằm viện theo chương trình hỗ trợ đặc biệt cho khách hàng không may mắc Covid-19 của Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ (theo thông tin công bố tại website:baovietnhantho.com.vn). Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau: Đối với việc giải quyết quyền lợi bảo hiểm theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm đã giao kết giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm: 1. Khoản 1 Điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 quy định: “1. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.” 2. Khoản 10 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 quy định về nội dung của hợp đồng bảo hiểm: “Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên tỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm”. 3. Điểm c, điểm d khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm: “ c) Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; d) Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường”. 4. Điểm d khoản 2 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm: “d. Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm” Đối với nội dung phản ánh về việc thực hiện các chương trình hỗ trợ khách hàng do doanh nghiệp bảo hiểm triển khai, Cục Quản lý giám sát, bảo hiểm – Bộ Tài chính đã có văn bản chuyển nội dung[...]
Kính gửi Bộ Tài chính! Đơn vị tôi là đơn vị do ngân sách Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên ( đơn vị nhóm 4). Tôi vừa tiếp nhận công tác tại đơn vị từ tháng 9/2021. Theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 thì từ năm 2022 đơn vị tôi không phải trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (Tài khoản 4314). Tuy nhiên, khi tiếp nhận tôi thấy Tài khoản quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp 4314 có số dư cụ thể như sau: Tài khoản 43141- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp có số dư: 4.204.976 Tài khoản 43142-Quỹ PTHĐSN hình thành tài sản cố định có số dư: 12.000.000 (tài sản vừa hình thành năm 2021) Xin hỏi Bộ tài chính là tôi muốn xử lý số dư tài khoản trên thì điều chỉnh như thế nào? (điều khoản chuyển tiếp tại NĐ 60 không nhắc đến quỹ PTHĐSN). Tôi xin chân thành cảm ơn và mong sớm nhận được câu trả lời./.
Nội dung thư độc giả hỏi về xử lý số dư Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) nhóm 4 theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP. Về vấn đề này Cục Quản lý giám sát Kế toán, Kiểm toán- Bộ Tài chính có ý kiến như sau: 1. Đơn vị của độc giả là ĐVSNCL nhóm 4, thuộc đối tượng áp dụng chế độ kế toán hành chính sự nghiệp theo Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017. Nghị định 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập là quy định mới, trong đó có nhiều nội dung thay đổi so với cơ chế tài chính trước đây. Theo đó, hiện nay Bộ Tài chính đang nghiên cứu ban hành, sửa đổi các Thông tư liên quan, trong đó bao gồm nội dung sửa đổi, bổ sung Thông tư số 107/2017/TT-BTC ngày 10/10/2017 hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp phù hợp với cơ chế tài chính theo Nghị định 60/2021/NĐ-CP. 2. Về xử lý số dư Quỹ Phát triển hoạt động sự nghiệp (Quỹ PTHĐSN) phát sinh từ năm 2021 trở về trước, đơn vị thực hiện theo phương án sau: a. Đối với số dư bằng tiền: Khoản 2 Điều 22 Nghị định 60/2021/NĐ-CP quy định: “….Số kinh phí tiết kiệm được, cuối năm chưa sử dụng hết được chuyển sang năm sau tiếp tục sử dụng.”. Vì vậy trường hợp đến hết năm 2021 đơn vị còn số dư bằng tiền tại Quỹ PTHĐSN trích lập từ kinh phí tiết kiệm các năm trước, năm 2022 đơn vị có thể tiếp tục sử dụng trong năm sau. Theo đó, do đơn vị không thuộc đối tượng được trích lập Quỹ PTHĐSN, vì vậy đơn vị kết chuyển số dư bằng tiền của Quỹ PTHĐSN trên TK 43141 “Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp” sang TK 421 “Thặng dư (thâm hụt) lũy kế”, ghi: Nợ TK 431- Các Quỹ (43141) Có TK 421- Thặng dư (thâm hụt) lũy kế b. Đối với số dư Quỹ PTHĐSN hình thành TSCĐ: Trước mắt, khi chưa có văn bản pháp lý quy định phương án xử lý cụ thể, đơn vị tiếp tục theo dõi giá trị còn lại của TSCĐ hình thành từ Quỹ PTHĐSN các năm trước trên TK 43142 “Quỹ PTHĐSN[...]
Tôi hiện đang công tác tại đơn vị hành chính sự nghiệp. Tôi đang có vướng mắc trong việc thanh toán tiền tàu xe cho viên chức, người lao động trong cơ quan đi nghỉ phép năm theo quy định cụ thể như sau: Trước đây, tôi thanh toán tiền tàu xe và phụ cấp theo quy định tại Thông tư 141/2011/TT-BTC và Thông tư số 57/2014/TT-BTC. Tuy nhiên theo quy định của Bộ luật lao động năm 2019 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP không quy định về việc thanh toán tiền tàu xe cho việc nghỉ phép năm. Vậy giờ tôi có được áp dụng thông tư 141 và Thông tư 57 để thanh toán tiền tàu xe nghỉ phép cho viên chức và người lao động trong cơ quan hay không. Xin chân thành cảm ơn
1. Căn cứ quy định tại Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 141/2011/TT-BTC và Thông tư số 57/2014/TT-BTC (gọi tắt là 02 Thông tư), trong đó quy định chế độ thanh toán tiền nghỉ phép năm cho cán bộ công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp gồm: (1) Tiền phương tiện đi lại, phụ cấp đi đường khi nghỉ phép hàng năm; (2) Tiền lương cho các trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm; (3) Tiền bồi dưỡng cho các trường hợp do yêu cầu công việc, cơ quan đơn vị không bố trí được thời gian cho cán bộ công chức nghỉ phép. 2. Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực từ 01/01/2021 (thay thế Bộ luật Lao động 2012), trong đó khoản 3 Điều 220 Bộ luật Lao động quy định “Chế độ lao động đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, tổ chức xã hội, xã viên hợp tác xã, người làm việc không có quan hệ lao động do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tùy từng đối tượng mà được áp dụng một số quy định trong Bộ luật này”. Khoản 5 Điều 114 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động quy định: Chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi (trong đó có nội dung về tiền tàu xe, tiền lương những ngày đi đường ngoài ngày nghỉ hàng năm) đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân do các văn bản pháp luật khác quy định; trường hợp các văn bản pháp luật khác không quy định thì áp dụng các quy định tại chương VII của Nghị định này”. Chế độ về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được quy định tại Điều 13 Luật Cán bộ công chức năm 2008, Điều 13 Luật Viên chức năm 2010. Cụ thể:[...]
Kính gửi Bộ tài chính, theo nghị định 15 về việc giảm thuế GTGT từ 10% còn 8% đối với một số mặt hàng. Cho tôi hỏi: TH1: Trường hợp cty tôi đi mua hàng và mặt hàng thuộc diện chịu thuế 8% nhưng bên nhà cung cấp lại xuất hóa đơn cho bên tôi thuế 10% (vì kế toán bên nhà cung cấp không xác định được rõ phần thuế của mặt hàng này có được giảm hay không nên vẫn để xuất thuế 10% cho đảm bảo an toàn về thuế của họ tránh bị truy thu xuất thiếu thuế). Như vậy trường hợp này bên cty tôi có được kê khai thuế 10% của hóa đơn này hay không, hay chỉ được kê thuế 8% còn lại 2% tiền thuế loại ra không được kê khai (cty tôi trả tiền thanh toán theo tổng tiền thuế 10% cho nhà cung cấp & bên nhà cung cấp không đồng ý xuất điều chỉnh tiền thuế). TH2: Cty tôi bán xe ô tô con và có phần dịch vụ sửa chữa xe cho khách hàng, vậy hóa đơn xuất ra nếu nội dung ghi: sửa chữa xe BKS:123 thì thuế kê khai là 8 hay 10%. Kính mong được sự phản hồi sớm ạ.
– Căn cứ Điều 1 Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết 43/2022/QH15 về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội quy định như sau: “Điều 1. Giảm thuế giá trị gia tăng 1. Giảm thuế giá trị gia tăng đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất 10%, trừ nhóm hàng hóa, dịch vụ sau: a) Viễn thông, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, kim loại và sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản phẩm khai khoáng (không kể khai thác than), than cốc, dầu mỏ tinh chế, sản phẩm hóa chất. Chi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. b) Sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Chi tiết tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này. c) Công nghệ thông tin theo pháp luật về công nghệ thông tin. Chi tiết tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này. d) Việc giảm thuế giá trị gia tăng cho từng loại hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này được áp dụng thống nhất tại các khâu nhập khẩu, sản xuất, gia công, kinh doanh thương mại…. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ nêu tại các Phụ lục I, II và III ban hành kèm theo Nghị định này thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng hoặc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng 5% theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng thì thực hiện theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và không được giảm thuế giá trị gia tăng. 2. Mức giảm thuế giá trị gia tăng a) Cơ sở kinh doanh tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ được áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 8% đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này. … 5. Trường hợp cơ sở kinh doanh đã lập hóa đơn và đã kê khai theo mức thuế suất hoặc mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng chưa được giảm theo quy định tại Nghị định này thì người bán và[...]
Kính gửi Bộ tài chính – Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, tôi xin hỏi quý cục về vấn đề giao kết Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với người nước ngoài. Theo quy định tại Nghị định73: "Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe không áp dụng các quy định về cung cấp và sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới". Vậy quý cục cho tôi hỏi, tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm với Công ty bảo hiểm, khách hàng là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. Tuy nhiên, 2 năm sau Khách hàng về nước không cư trú tại Việt Nam nữa, vậy Công ty bảo hiểm có được tiếp tục cung cấp dịch vụ bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đã ký cho Khách hàng đó không? Hay là hai bên phải chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ này? Tôi rất mong nhận được sự phản hồi từ quý cục, tôi xin chân thành cảm ơn.
Bộ Tài chính nhận được câu hỏi của bà Đinh Mỹ Hạnh qua cổng thông tin điện tử về việc: Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm với Công ty bảo hiểm, khách hàng là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. Tuy nhiên, 2 năm sau, khách hàng về nước, không cư trú tại Việt Nam nữa. Vậy, Công ty bảo hiểm có được tiếp tục cung cấp dịch vụ bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đã ký với khách hàng đó không hay là hai bên phải chấm dứt hợp đồng bảo hiểm nhân thọ này? Trên cơ sở quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan, Bộ Tài chính có ý kiến như sau: 1. Khoản 1 Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH quy định về hợp đồng bảo hiểm: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.” 2. Điểm d khoản 1 Điều 13 Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH quy định nội dung của hợp đồng bảo hiểm: “d) Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm”. 3. Điểm c khoản 2 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH quy định bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ: “c) Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm”. 4. Điểm b khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH quy định doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây: “b) Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này.” 5. Khoản[...]
