TIN NỔI BẬT
Cần kiểm soát, kéo giảm giá nhà ở phù hợp với thực tếQR code và bài toán luân chuyển vốn trong nền kinh tếPhối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ góp phần kiểm soát lạm phátChi lương tiền mặt trên 5 triệu đồng không được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệpCổ phiếu chứng khoán trước chu kỳ tăng trưởng margin 2026Nhiều quỹ trái phiếu có hiệu suất tới 7,5%, vượt lãi gửi tiết kiệmĐề xuất bỏ thẩm định giá lại đối với dự án điều chỉnh 1/500, đã hoàn thành nghĩa vụ tài chínhCông bố 277 doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026Nhân viên Lái xe (Làm việc tại Hà Nội)6 đơn vị không đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026INFOGRAPHIC: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2025Các ngân hàng có thể tăng trưởng tới 20% trong năm 2026Ngân hàng dự kiến siết chặt tiêu chí tài sản bảo đảm và xếp hạng tín nhiệmQuý 4/2025 xác lập kỷ lục mới về nguồn cung căn hộ tại Hà Nội và TP.Hồ Chí MinhNgân hàng Nhà nước yêu cầu gửi báo cáo trạng thái vàng hàng ngày trước 14 giờ hôm sauGiao dịch điều chỉnh nhẹ về khối lượng, giá trị vẫn được duy trìLãi suất liên ngân hàng giảm sâu sau một tuầnTinh gọn thủ tục, liên thông dữ liệu trong lĩnh vực tài chínhBộ Tài chính yêu cầu triển khai đồng bộ giải pháp ổn định giá dịp Tết Bính Ngọ 2026Thị trường bất động sản sôi động dịp cuối năm

Kính gửi Bộ Tài chính! Theo Điều 4, Thông tư số 209/2016/TT-BTC, mức thu phí thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật được xác định bằng 50% định mức tại biểu mức thu phí thẩm định (đối với công trình đã có thẩm tra trước khi thẩm định). Tuy nhiên, Theo Điểm 4.5, Khoản 4, Chương II – Định mức chi phí tư vấn đầu tư xây dựng của Thông tư số 12/2021/TT-BXD: "4.5. Chi phí thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo kinh tế – kỹ thuật của cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư xác định như sau: – Trường hợp thuê đơn vị tư vấn thẩm tra Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo kinh tế – kỹ thuật phục vụ công tác thẩm định của cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư thì chi phí thẩm định xác định bằng 15% chi phí thẩm tra Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo kinh tế – kỹ thuật hướng dẫn tại Thông tư này" Nhận thấy 2 định mức này khi tính toán chi phí trong TMĐT sẽ khác nhau. nên tôi đặt câu hỏi mong Bộ Tài chính giải đáp thắc mắc nên áp dụng theo văn bản nào cho phù hợp. Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời phản ánh, kiến nghị của đọc giả Nguyễn Hữu Học về phí, chi phí thẩm định dự án đầu tư xây dựng, Bộ Tài chính có ý kiến như sau: 1. Tại Danh mục phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí quy định: Phí thẩm định dự án đầu tư xây dựng, phí thẩm định thiết kế cơ sở thuộc thẩm quyền Bộ Tài chính. Tại khoản 4 Điều 20 Luật Phí và lệ phí quy định về trách nhiệm của các Bộ: …kiến nghị với Chính phủ hoặc Bộ Tài chính về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng đối với từng khoản phí, lệ phí thuộc ngành, lĩnh vực quản lý. Căn cứ quy định nêu trên và đề xuất của Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 209/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định dự án đầu tư, phí thẩm định thiết kế cơ sở. 2. Tại khoản 8 Điều 7 Nghị định số 10/2021/NĐ-CP ngày 09/02/2021 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng quy định: Bộ Xây dựng quy định chi phí thẩm định, thẩm tra Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng. Bộ Tài chính quy định phí thẩm định dự án đầu tư xây dựng. Triển khai Nghị định số 10/2021/NĐ-CP, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 12/2021/TT-BXD ngày 31/8/2021 về định mức xây dựng. Trong đó, quy định về chi phí thẩm tra, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo kinh tế – kỹ thuật. Như vậy, quy định về phí thẩm định dự án đầu tư tại Thông tư số 209/2016/TT-BTC và chi phí thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo kinh tế – kỹ thuật tại Thông tư số 12/2021/TT-BXD là khác nhau. Bộ Xây dựng là cơ quan chuyên môn quản lý về xây dựng; ban hành Thông tư số 12/2021/TT-BXD hướng dẫn về chi phí thẩm tra, thẩm định và đề xuất quy định thu phí thẩm định. Trường hợp có vướng mắc về chi phí thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo kinh tế – kỹ thuật: Đề nghị độc giả phản ánh đến Bộ Xây dựng để được[...]

Kính gửi Bộ Tài chính: Công ty chúng tôi là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn thiết kế, lập dự án, giám sát các công trình giao thông, hạ tầng kỹ thuật có sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Hiện nay khi làm thủ tục thanh toán chi phí tư vấn các công trình sử dụng vốn ngân sách tại kho bạc nhà nước, một số nơi thực hiện khấu trừ thuế theo tỷ lệ 1% doanh thu chưa có thuế giá trị gia tăng đối với khối lượng hoàn thành của các công trình, hạng mục công trình xây dựng cơ bản theo khoản 5 điều 13 thông tư 80/2021/TT-BTC. Theo Chúng tôi hiểu, khoản này chỉ áp dụng đối với đối tượng quy định tại khoản 1 điều 13 thông tư này: "…. c) Hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế quốc dân và quy định của pháp luật chuyên ngành;…". Theo quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế quốc dân: hoạt động xây dựng có mã nghành cấp 1 là F còn hoạt động tư vấn thiết kế, lập dự án, giám sát.. có mã ngành cấp 1 là M. Trước đây khi thông tư 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 còn hiệu lực, việc khấu trừ thuế 2% khi thanh toán tại kho bạc cũng áp dụng theo hướng dẫn của công văn 5406/BTC-TCT ngày 23/4/2015: " không thực hiện khấu trừ thuế GTGT đối với các trường hợp sau: + Hợp đồng cung cấp thiết bị, hợp đồng tư vấn, khảo sát, thiết kế, lập dự án, kiểm toán, bảo hiểm không ghi trên cùng với hợp đồng của công trình, hạng mục công trình xây dựng cơ bản…." Xin Bộ Tài chính cho chúng tôi hỏi: Việc khấu trừ 1% khi thanh toán chi phí tư vấn tại kho bạc theo thông tư 80/2021/TT-BTC là đúng hay sai. Đây cũng là vướng mắc của rất nhiều đơn vị tư vấn khác khi thanh toán tại kho bạc. Xin cảm ơn và chúc Ban Biên tập dồi dào sức khỏe!

– Căn cứ Điều 13 Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính về các trường hợp được phân bổ: “1. Các trường hợp được phân bổ: … c) Hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế quốc dân và quy định của pháp luật chuyên ngành; … 2. Phương pháp phân bổ: … c) Phân bổ thuế giá trị gia tăng phải nộp đối với hoạt động xây dựng: Số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho từng tỉnh của hoạt động xây dựng bằng (=) doanh thu chưa có thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động xây dựng tại từng tỉnh nhân (x) với 1%. Doanh thu chưa có thuế giá trị gia tăng được xác định theo hợp đồng đối với các công trình, hạng mục công trình xây dựng. Trường hợp công trình, hạng mục công trình xây dựng liên quan tới nhiều tỉnh mà không xác định được doanh thu của công trình tại từng tỉnh thì sau khi xác định tỷ lệ 1% trên doanh thu của công trình, hạng mục công trình xây dựng, người nộp thuế căn cứ vào tỷ lệ (%) giá trị đầu tư của công trình tại từng tỉnh trên tổng giá trị đầu tư để xác định số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho từng tỉnh. … 5. Kho bạc Nhà nước thực hiện khấu trừ tiền thuế giá trị gia tăng của các nhà thầu khi thực hiện thủ tục thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước cho chủ đầu tư như sau: a) Kho bạc Nhà nước nơi chủ đầu tư mở tài khoản giao dịch thực hiện khấu trừ tiền thuế giá trị gia tăng để nộp vào ngân sách nhà nước theo tỷ lệ 1% doanh thu chưa có thuế giá trị gia tăng đối với khối lượng hoàn thành của các công trình, hạng mục công trình xây dựng cơ bản, trừ các trường hợp quy định tại điểm b khoản này. b) Kho bạc Nhà nước không thực hiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với các trường hợp sau: b.1) Chủ đầu tư làm thủ tục tạm ứng vốn đầu tư xây dựng cơ bản theo quy định. b.2) Các khoản thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho các[...]

Kính gửi: Bộ Tài chính. Thực hiện theo Thông tư 107/2017/TT-BTC hiện nay chúng tôi đang vướng mắc hạch toán một số bút toán. Xin hỏi quý Bộ hướng dẫn các bước hạch toán tiền đã chi thu nhập tăng thêm cho người lao động từ quỹ bổ sung thu nhập năm 2020 (giờ không thu hồi từ người lao động mà hạch toán giảm từ quỹ bổ sung thu nhập năm 2021). Rất mong nhận được thông tin trả lời của Quý Bộ để đơn vị kịp hoàn thiện báo cáo tài chính năm 2021

Nội dung thư độc giả hỏi về hạch toán theo Thông tư số 107/2017/TT-BTC liên quan đến tiền đã chi thu nhập tăng thêm cho người lao động từ quỹ bổ sung thu nhập. Về vấn đề này Cục Quản lý giám sát Kế toán, Kiểm toán- Bộ Tài chính có ý kiến như sau: Căn cứ quy định của Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (có hiệu lực đến trước 15/8/2021), Quỹ bổ sung thu nhập của đơn vị sự nghiệp công lập được trích lập từ kết quả tài chính trong năm. Theo đó việc phát sinh sai sót đối với số đã chi thu nhập tăng thêm từ Quỹ bổ sung thu nhập có thể liên quan đến nhiều tình huống khác nhau, ví dụ như: ghi nhận sai doanh thu, chi phí trong năm; xác định sai số chênh lệch thu chi để trích quỹ; trích lập quỹ sai quy định; chi bổ sung thu nhập sai định mức;… Câu hỏi của độc giả chỉ nêu phương án thu hồi kinh phí, chưa đề cập đến nguyên nhân phải thu hồi, phương án xử lý đối với kinh phí thu hồi (ví dụ như để nộp trả ngân sách; điều chỉnh trích lập các quỹ; hoàn trả về quỹ Bổ sung thu nhập;…) và các thông tin khác có liên quan đến tình huống phát sinh tại đơn vị, vì vậy Bộ Tài chính không có căn cứ để hướng dẫn bút toán cụ thể. Về nguyên tắc, việc thu hồi kinh phí của đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện theo quy định tại Khoản 8, Điều 5, Thông tư 107/2017/TT-BTC về chế độ kế toán hành chính sự nghiệp về các tình huống sửa chữa sổ kế toán đối với một năm tài chính. Để xác định bút toán hạch toán cụ thể phải trên cơ sở các tình huống phát sinh tại đơn vị với đầy đủ các thông tin có liên quan. Ngoài ra, về phương án thu hồi kinh phí, đề nghị độc giả lưu ý việc sử dụng các quỹ phải đúng mục đích theo quy định hiện hành. Theo đó điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập[...]

Công ty chúng tôi là nhà thầu phụ có trụ sở cty ở TP Thuận An, Bình Dương có ký hợp đồng với nhà thầu chính (Cty TNHH CÔNG TRÌNH ĐIỆN KHÍ HOA THÁI có trụ sở đóng tại Quận Bình Tân – TP HCM) để thi công “Công trình lắp đặt hệ thống tủ điện hạ thế 0.4kv nhà xưởng sợi gia đoạn 1 của chủ đầu tư là cty HuaFu”, địa điểm thi công là ở Thị Trấn Hiệp Hòa, Huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An. Vậy khi công ty chúng tôi thi công hoàn thành công trình này và mở hóa đơn GTGT cho khách hàng thì có cần trích 1% tiền thuế GTGT vãng lai cho Chi Cục Thuế Huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An hay không? Nếu có trích nộp tiền thuế GTGT vãng lai này thì cty Chúng Tôi phải kê khai vào đâu để khấu trừ lại số tiền thuế đã nộp?. (Từ năm 2021 trở về trước công ty kê khai vào PL 01-5/GTGT sau đó qua chỉ tiêu [39] trên tờ khai 01/GTGT để khấu trừ). Xin Bộ Tài Chính và Tổng Cục Thuế hướng dẫn chi tiết giúp công ty chúng tôi

Căn cứ Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/09/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP  ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế: – Tại Điều 13 quy định khai thuế, tính thuế, phân bổ và nộp thuế giá trị gia tăng: “Điều 13. Khai thuế, tính thuế, phân bổ và nộp thuế giá trị gia tăng 1. Các trường hợp được phân bổ: … c) Hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế quốc dân và quy định của pháp luật chuyên ngành;…” 2. Phương pháp phân bổ: … c) Phân bổ thuế giá trị gia tăng phải nộp đối với hoạt động xây dựng: Số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho từng tỉnh của hoạt động xây dựng bằng (=) doanh thu chưa có thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động xây dựng tại từng tỉnh nhân (x) với 1%. … 3.Khai thuế, nộp thuế: … c) Đối với hoạt động xây dựng: c.1) Người nộp thuế là nhà thầu xây dựng, ký hợp đồng trực tiếp với chủ đầu tư để thi công công trình xây dựng tại tỉnh khác với nơi có trụ sở chính của người nộp thuế, bao gồm cả công trình, hạng mục công trình xây dựng liên quan tới nhiều tỉnh thì người nộp thuế thực hiện khai thuế giá trị gia tăng của các công trình, hạng mục công trình đó với cơ quan thuế nơi có công trình xây dựng theo mẫu số 05/GTGT ban hành kèm theo phụ lục II Thông tư này; nộp tiền thuế đã kê khai vào ngân sách nhà nước tại tỉnh nơi có công trình xây dựng. Trường hợp Kho bạc Nhà nước đã thực hiện khấu trừ theo quy định tại khoản 5 Điều này thì người nộp thuế không phải nộp tiền vào ngân sách nhà nước tương ứng với số tiền thuế Kho bạc Nhà nước đã khấu trừ. …” – Thực hiện hướng dẫn tại công văn số 4384/TCT-CS ngày 12/11/2021 của Tổng cục Thuế v/v giới thiệu các nội dung mới của Thông tư 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính. “Điểm mới 2: Sửa đổi quy định về khai thuế GTGT đối với hoạt động xây dựng tại[...]

Theo Thông tư số 124/2016/TT-BTC ngày 03/8/2016 của Bộ Tài chính: – Tại Điều 2 đã quy định đối tường áp dụng. – Tại Điều 4 quy định Chi phí trong trường hợp đơn vị quản lý vận hành nhà ở là đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có quy định chi thường xuyên có Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương tại điểm a. Đối với trường họp UBND cấp tỉnh giao Sở Xây dựng là cơ quan quản lý nhà ở công vụ thuộc tỉnh quản lý. Đồng thời, giao Sở Xây dựng quyết định lựa chọn đơn vị quản lý vận hành. Tuy nhiên, để tiết kiệm chi phí thì Sở Xây dựng tận dụng bộ máy cán bộ công chức thuộc Sở để thành lập tổ quản lý vận hành (kiêm nhiệm), không thuê đơn vị ngoài. Như vậy, cán bộ công chức thuộc tổ quản lý vận hành nhà ở công vụ trực thuộc Sở như nêu trên ngoài việc hưởng lương, phụ cấp theo quy định thì có được hưởng thêm chế độ phụ cấp trích từ nguồn số tiền thu được từ việc cho thuê nhà ở công vụ tỉnh khi kiêm nhiệm quản lý vận hành nhà ở công vụ hay không ? Rất mong Bộ Tài chính xem xét giải đáp và hướng dẫn chi tiết áp dụng để có chế độ hỗ trợ cán bộ công chức tăng thêm thu nhập. Xin trân trọng cảm ơn.

– Tại Điều 4, Điều 5, Điều 11 Thông tư số 124/2016/TT-BTC ngày 03/8/2016 của Bộ Tài chính quy định:           "Điều 4. Chi phí trong trường hợp đơn vị quản lý vận hành nhà ở là đơn vị sự nghiệp công lập           1. Chi phí quản lý bao gồm:           1.1. Chi thường xuyên: Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao; gồm:           a) Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương;           b) Các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các khoản trích nộp khác theo quy định hiện hành;           c) Chi thanh toán dịch vụ công cộng: tiền điện, nước, vệ sinh môi trường và các dịch vụ khác;           d) Chi mua vật tư văn phòng: công cụ, dụng cụ văn phòng, tủ tài liệu, bàn ghế, văn phòng phẩm phục vụ cho hoạt động của đơn vị;           đ) Chi sửa chữa thường xuyên tài sản cố định;           e) Chi khấu hao tài sản cố định (nếu có);           g) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật (nếu có).           1.2. Chi không thường xuyên (nếu có), gồm:           a) Chi mua sắm trang thiết bị;           b) Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật (nếu có).           2. Chi phí hợp lệ (nếu có); gồm:           a) Các khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật;           b) Các khoản phí, lệ phí;           c) Chi phí hợp lệ khác theo quy định của pháp luật (nếu có).           3. Các khoản chi quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này được chi từ nguồn tiền thu được từ cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; trừ trường hợp các khoản chi này đã được bố trí trong dự toán ngân sách giao hàng năm của đơn vị sự nghiệp công lập quản lý vận hành nhà ở.           Điều 5. Chi phí trong trường hợp đơn vị quản lý vận hành nhà ở là doanh nghiệp           1. Nội dung chi:           a) Chi phí nhân viên quản lý;           b) Chi phí vật liệu quản lý;           c) Chi phí đồ dùng văn phòng;           d) Chi phí khấu hao tài sản cố định;           đ) Thuế, phí và lệ phí;           e) Chi phí dự phòng;           g) Chi phí dịch vụ mua ngoài;           h) Chi thẩm tra quyết toán chi phí;           i) Chi phí bằng tiền khác.           2. Các khoản chi quy định tại khoản 1 Điều[...]

Chào anh chị tiếp nhận câu hỏi, chào cơ quan có thẩm quyền, Tôi là Yến Anh, Hôm nay tôi viết thư này mong muốn chính quyền các cấp giải đáp, và xem xét lại yếu tố thu nhập trong đăng ký giảm trừ gia cảnh. Tôi không phải dân chuyên luật, nên có thể có những từ vựng tôi dùng chưa chuẩn, mong các cấp thông cảm. Bố tôi 70 tuổi, là thương binh hạng 4 trong kháng chiến chống mỹ, mất 40% sức lao động , hiện bố tôi đang bệnh tai biến, huyết áp, tĩnh mạch. Cảm ơn Đảng, Chính Phủ và Bộ Thương Binh, mà bố tôi có thẻ BHYT, có trợ cấp thương binh hàng tháng với mức khoảng 3 triệu đồng đã giúp gia đình tôi có khoản kinh phí lo thuốc men. Tôi là nhân viên hiện đang tham gia đóng thuế TNCN hàng tháng, tôi có trợ cấp nuôi bố và mẹ tôi. Tuy nhiên khi tôi làm đơn đăng ký người phụ thuộc là bố tôi, thì bị từ chối vì theo luật trích bên dưới: “Nhóm 2: Cha đẻ, mẹ đẻ; – Đối với người ngoài độ tuổi lao động phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 01 triệu đồng.” Vậy câu hỏi tôi đặt ra: Thứ 1: Tính chất của trợ cấp thương binh có xem xét như là một khoản thu nhập để loại trừ đăng ký người phụ thuộc không? Theo các công thức tính thuế TNCN, ở mục giảm trừ trong lương thì trợ cấp xăng xe, công tác…. Không được xem là thu nhập tính thuế. Như vậy, bố tôi nhận trợ cấp thương binh, được tính trên trợ cấp cơ sở nhân với tỷ lệ % mất sức lao động, vậy tôi hiểu đây là trợ cấp bồi dưỡng sức khỏe cho người mất sức lao động của Bộ thương binh chứ không phải là lương. Do đó, theo quan điểm của tôi trợ cấp thương binh này nên trở thành mục loại trừ khi tính vào thu nhập của đối tượng được xem xét thành người phụ thuộc, đặc biệt là người có công cách mạng. Và tôi hy vọng các cấp và chính quyền xem xét lại điều này ạ Thứ 2: Theo bản thân tôi thấy, giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc là 4.8 triệu đồng/ người hiện nay cũng khá hợp lý. Nhưng mức loại trừ từ 1 triệu đồng theo luật trên có vẻ áp dụng khá lâu và chưa được sửa đổi và cập nhật. Tôi đưa ra quan điểm như vậy vì mức sống hiện tại, mức thu nhập 1 triệu đồng quá thấp không đủ cho bất kì ai đó ăn mì tôm trong vòng 1 tháng 30 ngày, chưa tính đến các chi phí sống khác. Tôi mong mỏi, nhà nước có thể xem xét mức giảm trừ gia cảnh cho đối tượng phụ thuộc có thu nhập được tính bằng = mức giảm trừ gia cảnh tiêu chuẩn – thu nhập bình quân tháng của đối tượng phụ thuộc có thu nhập. Tôi ví dụ người có thu nhập 1 triệu, thay vì không được tính là người phụ thuộc sẽ có thể điều chỉnh thành người phụ thuộc có mức giảm trừ = 4.8 triệu đồng – 1 triệu đồng = 3.8 triệu đồng. Điểm này có thể là điểm sáng thứ 2, nếu được nhà nước xem xét. Tôi xin trân trọng cảm ơn quý anh chị, các cấp đã xem thư. Tôi hy vọng sẽ nhận được email phản hồi từ quý anh chị và các cấp.

– Căn cứ Tiết d.2, d.3, Điểm d, Khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về giảm trừ gia:    “d.2) Vợ hoặc chồng của người nộp thuế đáp ứng điệu kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều này. d.3) Cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng); cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp của người nộp thuế đáp ứng điều kiện tại điểm đ, khoản 1, Điều này.” – Căn cứ Điểm đ, Khoản 1, Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về người phụ thuộc đủ diều kiện được tính giảm trừ gia cảnh:    “đ) Cá nhân được tính là người phụ thuộc theo hướng dẫn tại các tiết d.2, d.3, d.4, điểm d, khoản 1, Điều này phải đáp ứng các điều kiệnsau: đ.1) Đối với người trong độ tuổi lao động phải đáp ứng đồng thời các điều kiện sau: đ.1.1) Bị khuyết tật, không có khả năng lao động. đ.1.2) Không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng. đ.2) Đối với người ngoài độ tuổi lao động phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.” – Căn cứ Điều 4 Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24/7/2021 của Chính phủ quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng. Căn cứ quy định và hướng dẫn nêu trên, trường hợp cha độc giả có các khoản trợ cấp, phụ cấp hàng tháng theo quy định pháp luật về ưu đãi người có công 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) thì không đủ điều kiện tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc