TIN NỔI BẬT
Triển vọng giá, hạ tầng và nguồn cung định hình thị trường nhà ở Hà NộiNgân hàng nào được cấp room tín dụng cao nhất năm 2026?Tổ chức thành lập dưới 12 tháng phải xác thực sinh trắc học khi giao dịch trên 50 triệu đồngÁp dụng Chuẩn mực IFRS nhằm giảm rủi ro về gian lận báo cáo tài chính và tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chínhKiểm soát tín dụng bất động sản: Giữ nhịp tăng trưởng, phòng ngừa rủi roCần kiểm soát, kéo giảm giá nhà ở phù hợp với thực tếQR code và bài toán luân chuyển vốn trong nền kinh tếPhối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và tiền tệ góp phần kiểm soát lạm phátChi lương tiền mặt trên 5 triệu đồng không được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệpCổ phiếu chứng khoán trước chu kỳ tăng trưởng margin 2026Nhiều quỹ trái phiếu có hiệu suất tới 7,5%, vượt lãi gửi tiết kiệmĐề xuất bỏ thẩm định giá lại đối với dự án điều chỉnh 1/500, đã hoàn thành nghĩa vụ tài chínhCông bố 277 doanh nghiệp đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026Nhân viên Lái xe (Làm việc tại Hà Nội)6 đơn vị không đủ điều kiện kinh doanh thẩm định giá năm 2026INFOGRAPHIC: Thị trường bảo hiểm Việt Nam 2025Các ngân hàng có thể tăng trưởng tới 20% trong năm 2026Ngân hàng dự kiến siết chặt tiêu chí tài sản bảo đảm và xếp hạng tín nhiệmQuý 4/2025 xác lập kỷ lục mới về nguồn cung căn hộ tại Hà Nội và TP.Hồ Chí MinhNgân hàng Nhà nước yêu cầu gửi báo cáo trạng thái vàng hàng ngày trước 14 giờ hôm sau
Sử dụng 5.000 seal định vị điện tử để niêm phong, giám sát hải quan

Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Mai Xuân Thành vừa ký Công văn số 1023/TCHQ-GSQL về việc sử dụng seal định vị điện tử để niêm phong, giám sát hải quan đối với hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan.

Ứng dụng dữ liệu để đột phá trong kỷ nguyên số

Kinh tế số ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia, nhất là trong bối cảnh tác động của COVID-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Trong nền kinh tế số, dữ liệu được xem là chìa khóa vàng, là “dầu mỏ” để tạo đột phá trong xây dựng kinh tế số.

Kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm vi phạm trong kiểm toán doanh nghiệp niêm yết

Bộ Tài chính vừa có văn bản gửi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Cục Quản lý giám sát Kế toán, kiểm toán, Thanh tra Bộ truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tài chính Hồ Đức Phớc về việc tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật trong công tác kiểm toán doanh nghiệp niêm yết.

Đơn vị chúng tôi Chủ đầu tư thực hiện đầu tư nâng cấp mở rộng các dự án cấp nước sạch tập trung nông thôn được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt (nguồn vốn: ngân sách tỉnh) Căn cứ quy định tại Điểm a Mục 3 Phần II Nghị quyết số 11/NQ-CP “Trong năm 2022, các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 10% được giảm 2% thuế suất (còn 8%) đối với cơ sở kinh doanh tỉnh thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ và giảm 20% mức tỷ lệ phần trăm khi thực hiện xuất hóa đơn đối với cơ sở kinh doanh, hộ, cá nhân kinh doanh tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, trừ một số nhóm hàng hóa, dịch vụ sau: viễn thông, công nghệ thông tin, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, kim loại, sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản phẩm khai khoáng (không kể khai thác than), than cốc, dầu mỏ tinh chế, sản phẩm hóa chất, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt”. Theo nội dung quy định nêu trên, đơn vị có 02 trường hợp kính đề nghị Bộ tài chính hướng dẫn, cụ thể như sau: 1. Đối với những hợp đồng đã ký kết từ năm 2021, hình thức hợp đồng trọn gói có thời gian kéo dài sang năm 2022 thì Chủ đầu tư sẽ thanh toán cho nhà thầu theo giá trị hợp đồng đã ký hay phải điều chỉnh giá trị hợp đồng với nội dung điều chỉnh giảm thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống còn 8%. 2. Đối với những hợp đồng ký kết và thực hiện trong năm 2022 thì Chủ đầu tư sẽ thực hiện ký hợp đồng theo giá trị gói thầu được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt (có thuế 10%) và nhà thầu xuất hóa đơn thuế 8%. Hay CDT phải điều chỉnh giá gói thầu với mức thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống còn 8% trước khi ký hợp đồng.

– Căn cứ khoản 5 Điều 8 Thông tư số 129/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định: “Điều 8. Thời điểm xác định thuế GTGT 5.Đối với xây dựng, lắp đặt, bao gồm cả đóng tàu, là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.” – Tại khoản 2 Điều 42 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2020) quy định nguyên tắc khai thuế, tính thuế: “Người nộp thuế tự tính số tiền thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ.” – Căn cứ Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ quy định chính sách miễn, giảm thuế theo Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ, hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội; – Căn cứ Quyết định số 43/2018/QĐ-TTg ngày 01/11/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam; Căn cứ các quy định nêu trên, Cục Thuế tỉnh Bình Dương trả lời về nguyên tắc cho độc giả như sau: Nếu đơn vị của độc giả có mã ngành sản phẩm (theo Quyết định số 43/QĐ/2018/QĐ-TTg ngày 01/11/2018 của Thủ tướng Chính phủ)  không thuộc Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 15/2022/NĐ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ thì thuộc đối tượng được giảm thuế GTGT theo quy định tại Nghị định này. Trường hợp đơn vị của độc giả phát sinh hợp đồng ký kết năm 2021 hoặc năm 2022 thì đơn vị căn cứ vào thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình cung cấp nước sạch cho chủ đầu tư để lập hóa đơn GTGT theo quy định tại khoản 5 Điều 8 Thông tư số 129/2013/TT-BTC không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Việc điều chỉnh giá trị hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu không thuộc thẩm quyền giải quyết của Cục Thuế. Đơn vị của độc giả căn cứ hướng dẫn nêu trên, đối chiếu với tình hình sản suất kinh doanh thực tế tại đơn vị để thực hiện theo đúng quy định. Trên đây là ý kiến của Cục Thuế tỉnh Bình Dương trả[...]

Kính gửi bộ tài chính, Theo điều 47 Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định: Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo, quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động được phân bổ tối đa không quá 3 năm; Chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh một lần có giá trị lớn doanh nghiệp không thực hiện trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, phân bổ tối đa không quá 3 năm. Vậy tôi xin hỏi về chi phí tổ chức hội nghị khách hàng giới thiệu sản phẩm mới. Công ty chúng tôi vào tháng 12/2021 đã tổ chức 1 buổi hội nghị khách hàng để giới thiệu, quảng cáo về sản phẩm mới của công ty, sang năm 2022 mới triển khai bán hàng. Vậy chúng tôi có được phép phân bổ khoản chi phí này tối đa trong 3 năm không? Kính mong Bộ tài chính hướng dẫn chi tiết. Xin chân thành cảm ơn.

Tại khoản 1 Điều 47 Thông tư số 200/2014/TT-BTC quy định Tài khoản 242- Chi phí trả trước dùng để phản ánh các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có liên quan đến kết quả hoạt động SXKD của nhiều kỳ kế toán và việc kết chuyển các khoản chi phí này vào chi phí SXKD của các kỳ kế toán sau. Một trong các khoản chi phí của doanh nghiệp được phản ánh vào Tài khoản 242 là chi phí quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động (giai trước hoạt động được áp dụng cho các doanh nghiệp mới thành lập có một số hoạt động trước khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh chính thức) của doanh nghiệp và thời gian được phân bổ tối đa không quá 3 năm. Tại khoản 1, khoản 2 Điều 91 Thông tư số 200/2014/TT-BTC quy định: Tài khoản 641- Chi phí bán hàng dùng để phản ánh các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ, bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá (trừ hoạt động xây lắp), chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển,… Tài khoản 6418 – Chi phí bằng tiền khác phản ánh các chi phí bằng tiền khác phát sinh trong khâu bán hàng ngoài các chi phí đã kể trên như chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí giới thiệu sản phẩm, hàng hoá, quảng cáo, chào hàng, chi phí hội nghị khách hàng… Do câu hỏi của Quý độc giả không mô tả rõ là chi phí tổ chức hội nghị khách hàng để giới thiệu, quảng cáo sản phẩm của công ty có phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động hay không nên đề nghị Quý độc giả căn cứ vào các quy định nêu trên và thực tế của đơn vị để hạch toán kế toán phục vụ mục đích lập và trình bày báo cáo tài chính cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể sau: Trường hợp 1: Nếu các chi phí quảng cáo để giới thiệu sản phẩm mới của doanh nghiệp phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động thì doanh nghiệp được phản ánh chi phí quảng cáo[...]

Kính gửi Bộ tài chính , tôi đang công tác tại Trường THPT Gò Vấp – TPHCM , là đơn vị sự nghiệp công lập đảm bảo một phần chi thường xuyên , có một vấn đề muốn trợ giúp : Cuối năm 2020 được trích lập quỹ phúc lợi từ chênh lệch thu lớn hơn chi từ nguồn ngân sách năm là : 715 triệu đồng ; Trường làm giấy rút dự toán từ ngân sách cho quỹ phúc lợi : vào ngày 19/12/2020 rút 225 triệu đồng ( tạm ứng ) từ KBNN và ngày 06/01/2021 rút 490 triệu đồng ( thực chi ) từ KBNN , ngày 10/01/2021 đã làm giấy Thanh toán tạm ứng với KBNN số tiền 225 triệu đồng . Xin hỏi trong “ Báo cáo chi tiết chi từ nguồn NSNN và nguồn phí được khấu trừ để lại “ năm 2020 ( phụ biểu F01-01/BCQT ) , số tiền trích lập quỹ phúc lợi từ nguồn ngân sách nhà nước được ghi là : 490 triệu đông . Xin hỏi việc này có đúng không ? . Xin chân thành cám ơn .

Nội dung thư độc giả hỏi về việc đơn vị hạch toán và lập báo cáo quyết toán đối với khoản trích quỹ phúc lợi năm 2020 theo quy định của chế độ kế toán hành chính sự nghiệp ban hành theo Thông tư 107/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính. Về vấn đề này Cục Quản lý giám sát Kế toán, Kiểm toán- Bộ Tài chính có ý kiến như sau: 1. Năm 2020 các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ tài chính theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/02/2015 về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Theo Khoản 3, Điều 14, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định về tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên:   “3. Phân phối kết quả tài chính trong năm a) Hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi hoạt động thường xuyên (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau: – Trích tối thiểu 15% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; – Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định; – Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 2 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị; – Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật; – Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn vị được quyết định sử dụng theo trình tự sau: Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập; Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ khác (nếu có). b) Mức trích cụ thể của các quỹ theo quy định tại Điểm a Khoản này và việc[...]