TIN NỔI BẬT
Cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải được thực hiện chặt chẽBất động sản năm 2026: Vẫn là kênh đầu tư "chân ái"2,94 triệu tỷ đồng dư nợ bất động sản và cuộc sàng lọc danh mục cổ phiếuSau Tết, vàng – bạc vào nhịp mới trước thềm vía Thần Tài 2026Ngăn chặn trục lợi, bảo đảm đúng đối tượng được miễn thuế thu nhập doanh nghiệpBan lãnh đạo CPA VIETNAM hòa cùng người dân Hà Nội đi lễ chùa Trấn Quốc đầu Xuân mớiCPA VIETNAM rộn ràng Khai xuân Bính Ngọ 2026CPA VIETNAM CHÚC MỪNG NĂM MỚI XUÂN BÍNH NGỌ 2026BẢN TIN PHÁP LUẬT THÁNG 2/2026VACPA phát hành Báo cáo thường niên năm 2025Thặng dư ngân sách gần 208 nghìn tỷ đồng ngay tháng đầu nămTổng tài sản ngân hàng 2025: Quy mô tăng nhanh, hiệu quả quyết định thứ hạngThanh khoản thị trường chứng khoán phái sinh tháng 1/2026 tăng 6,32%Hoàn thiện hạ tầng thanh toán sàn giao dịch các-bon, Bộ Tài chính công bố thủ tục mớiChiến lược tiền đầu năm 2026: Phân bổ tài sản trở lại vai trò trung tâmĐẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong Tổng điều tra kinh tế năm 2026Cuộc đua huy động vốn và hệ quả lãi vay mua nhà không thể đứng yênMiễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất từ 31/1/2026Chứng khoán tháng 2: Từ động lực chính sách sang bài toán điều kiện dòng tiềnCải cách thủ tục thành lập tổ chức kinh tế, thúc đẩy đầu tư

Chủ tịch UBND tỉnh có quyền xóa nợ tiền phạt, chậm nộp thuế dưới 5 tỷ đồng

 

Ảnh TL minh họa.

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do đó thẩm quyền xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp thuế của đối tượng này được quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 94/2019/QH14 và chủ tịch UBND tỉnh quyết định xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp dưới 5 tỷ đồng.

Bộ Tài chính vừa có văn bản trả lời kiến nghị của cử tri Bến Tre, do Ban Dân nguyện chuyển tới. Cử tri kiến nghị xem xét, trình bổ sung hợp tác xã vào đối tượng thuộc thẩm quyền xử lý nợ của chủ tịch UBND tỉnh để xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với hợp tác xã; đồng thời có giải pháp xóa nợ đối với những hợp tác xã đã ngưng hoạt động, thuộc diện giải thể nhưng không còn tài sản để thanh lý, không còn khả năng để trả nợ thuế, để những hợp tác xã này được giải thể, tạo điều kiện thuận lợi cho địa phương trong việc quản lý cũng như xây dựng và phát triển các loại hình kinh tế này.

Trả lời vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Hợp tác xã số 23/2012/QH13 và Điều 6 Nghị quyết 94/2019/QH14, hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân. Do đó, thẩm quyền xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp của hợp tác xã được quy định tại Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 94/2019/QH14 và chủ tịch UBND tỉnh quyết định xóa nợ tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp dưới 5 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, căn cứ theo quy định tại Điều 65 của Luật Quản lý thuế số 78/2016/QH11 (được bổ sung tại Khoản 20 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH11) về các trường hợp được xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; Điều 85 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 về các trường hợp được xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt, thì thời điểm trước 1/7/2020, các khoản nợ tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp của hợp tác xã đã ngưng hoạt động, thuộc diện giải thể nhưng không còn tài sản để thanh lý, không còn khả năng trả nợ thuế, và cơ quan thuế đã áp dụng tất cả các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, đồng thời các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt này đã quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế nhưng không có khả năng thu hồi thì thuộc đối tượng được xóa nợ theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế.

Thời điểm từ ngày 1/7/2020 đến nay, trường hợp hợp tác xã đã ngưng hoạt động, thuộc diện giải thể nhưng không còn tài sản để thanh lý, không còn khả năng trả nợ thuế và cơ quan thuế đã áp dụng biện pháp cưỡng chế, đồng thời các khoản nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt này đã quá 10 năm kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế nhưng không có khả năng thu hồi, thì thuộc đối tượng được xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt theo quy định tại Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14./.

Trích nguồn

Văn Tuấn