TIN NỔI BẬT
VACPA phát hành Báo cáo thường niên năm 2025Thặng dư ngân sách gần 208 nghìn tỷ đồng ngay tháng đầu nămTổng tài sản ngân hàng 2025: Quy mô tăng nhanh, hiệu quả quyết định thứ hạngThanh khoản thị trường chứng khoán phái sinh tháng 1/2026 tăng 6,32%Hoàn thiện hạ tầng thanh toán sàn giao dịch các-bon, Bộ Tài chính công bố thủ tục mớiChiến lược tiền đầu năm 2026: Phân bổ tài sản trở lại vai trò trung tâmĐẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong Tổng điều tra kinh tế năm 2026Cuộc đua huy động vốn và hệ quả lãi vay mua nhà không thể đứng yênMiễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất từ 31/1/2026Chứng khoán tháng 2: Từ động lực chính sách sang bài toán điều kiện dòng tiềnCải cách thủ tục thành lập tổ chức kinh tế, thúc đẩy đầu tưLãi suất liên ngân hàng tăng liên tiếp 3 tuầnChứng khoán 2026: Những nhóm cổ phiếu có thể tạo khác biệt về hiệu suấtSớm triển khai cơ chế thử nghiệm blockchain và tài sản mã hóa tại Trung tâm tài chính quốc tếĐa dạng hóa kênh đầu tư vàng để nâng chất thị trườngThanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 đạt giá trị gấp 28 lần GDPCPA VIETNAM tham gia Ngày hội An sinh xã hội “Xuân Nhân Ái - Tết Bính Ngọ 2026” tại phường Thanh XuânNgân hàng nhỏ và vừa 2025: Tăng trưởng không đồng đều, rõ áp lực rủi roKhắc phục tình trạng phát triển đô thị manh mún, thiếu đồng bộDòng tiền chững lại khi rủi ro toàn cầu và lãi suất cùng gia tăng

Chuyển đổi khu công nghiệp sang phát triển khu đô thị – dịch vụ: Điều kiện, hồ sơ, thủ tục

 

chuyển đổi khu công nghiệp sang phát triển khu đô thị - dịch vụ

Chuyển đổi khu công nghiệp sang phát triển khu đô thị – dịch vụ: Điều kiện, hồ sơ, thủ tục (Ảnh minh họa)

Nghị định 35/2022/NĐ-CP về quản lý khu công nghiệp (KCN) và khu kinh tế (KKT) được ban hành ngày 28/05/2022, trong đó, quy định điều kiện, thủ tục chuyển KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ như sau:

1. 05 điều kiện chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ

Theo Khoản 1 Điều 13 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, việc chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ phải đáp ứng 05 điều kiện sau.

– Phù hợp với quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

– KCN nằm trong khu vực nội thành của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh.

– Thời gian hoạt động kể từ ngày KCN được thành lập đến thời điểm xem xét chuyển đổi tối thiểu là 15 năm hoặc một phần hai (1/2) thời hạn hoạt động của KCN.

– Có sự đồng thuận của nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp và trên hai phần ba (2/3) số doanh nghiệp trong KCN tại khu vực dự kiến chuyển đổi, trừ các trường hợp:

Dự án đầu tư đã hết thời hạn hoạt động theo quy định của pháp luật về đầu tư; dự án đầu tư không đủ điều kiện gia hạn cho thuê lại đất theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về dân sự; dự án đầu tư gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc diện buộc phải di dời theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

– Có hiệu quả kinh tế – xã hội, môi trường.

2. Hồ sơ đề nghị chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ 

Theo khoản 2 Điều 13 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, về hồ sơ đề nghị chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ.

– Đề án chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ gồm các nội dung sau: căn cứ pháp lý và sự cần thiết của việc chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ; đánh giá và giải trình khả năng đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 35/2022/NĐ-CP (kèm theo các tài liệu có liên quan).

Phương án di dời, bồi thường, giải phóng mặt bằng và phương án huy động các nguồn vốn để thực hiện; kiến nghị các giải pháp, cơ chế, chính sách đặc thù (nếu có) và tổ chức thực hiện.

– Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ.

– Hồ sơ được lập thành 10 bộ, trong đó có ít nhất 02 bộ hồ sơ gốc (01 bộ hồ sơ gốc trình Thủ tướng Chính phủ) và 09 bộ hồ sơ nộp cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư để thẩm định theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 13 Nghị định 35/2022/NĐ-CP.

3. Thủ tục thẩm định việc chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ

Theo khoản 3 Điều 13 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, về thủ tục thẩm định việc chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ.

– Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều Điều 13 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi hồ sơ lấy ý kiến thẩm định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng và cơ quan nhà nước có liên quan.

– Trường hợp hồ sơ không đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản để UBND cấp tỉnh bổ sung, sửa đổi hồ sơ. Thời gian bổ sung, sửa đổi hồ sơ không tính vào thời gian thẩm định.

– Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ lấy ý kiến theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 13 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, cơ quan được lấy ý kiến có ý kiến thẩm định về nội dung thuộc phạm vi quản lý nhà nước của mình, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

– Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức thẩm định hồ sơ và lập báo cáo thẩm định gồm các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 13 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ.

Lưu ý: Trường hợp cần thiết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thành lập Hội đồng thẩm định hoặc tổ chức cuộc họp với cơ quan nhà nước có liên quan và UBND cấp tỉnh để làm rõ những vấn đề có liên quan.

4. Nội dung thẩm định việc chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ.

Theo khoản 4 Điều 13 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, về nội dung thẩm định việc chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ.

– Căn cứ pháp lý và sự cần thiết của việc chuyển đổi KCN sang phát triển khu đô thị – dịch vụ.

– Đánh giá việc đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 35/2022/NĐ-CP.

– Đánh giá tính khả thi của phương án di dời, bồi thường, giải phóng mặt bằng và phương án huy động các nguồn vốn để thực hiện.

– Đánh giá các giải pháp, cơ chế, chính sách đặc thù (nếu có) và tổ chức thực hiện.

Nghị định 35/2022/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/7/2022 (thay thế Nghị định 82/2018/NĐ-CP).

Trích nguồn

Chí Nhân