Tính đến giữa tháng 9/2026, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã đối mặt với 327 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại tại 27 thị trường. Trong khi đó, Việt Nam đang duy trì 37 biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu.

Phòng vệ thương mại là công cụ hữu hiệu giúp doanh nghiệp bảo vệ hoạt động sản xuất.
Sử dụng công cụ phòng vệ thương mại để bảo đảm cạnh tranh công bằng
Tại Diễn đàn Phòng vệ thương mại lần thứ ba, với chủ đề “Thúc đẩy năng lực sản xuất quốc gia - kiến tạo động lực cho tăng trưởng” diễn ra vừa qua, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, Việt Nam đã khởi xướng điều tra 62 vụ việc phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu. Trong số này có 48 vụ chống bán phá giá, 1 vụ chống trợ cấp, 6 vụ tự vệ và 7 vụ chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại. Hiện Việt Nam duy trì 37 biện pháp đối với hàng hóa nhập khẩu.
Việc điều tra và áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại được thực hiện trên cơ sở quy định pháp luật và các cam kết quốc tế. Công cụ này góp phần xử lý tác động của những hành vi thương mại thiếu lành mạnh, tạo điều kiện để hàng hóa sản xuất trong nước cạnh tranh trong môi trường công bằng.
Trong đó, quy mô doanh thu của các doanh nghiệp sản xuất được bảo vệ đạt khoảng 626.000 tỷ đồng; khoảng 67.000 lao động được bảo vệ. Tổng số thuế phòng vệ thương mại đóng góp ngân sách nhà nước trong năm 2025 đạt khoảng 2.500 tỷ đồng. Bên cạnh tác động đối với sản xuất và việc làm, những số liệu này cho thấy phạm vi ảnh hưởng của các biện pháp đang được áp dụng.
Tuy nhiên, biện pháp phòng vệ thương mại chỉ tạo thêm thời gian để doanh nghiệp củng cố năng lực. Trong khoảng thời gian đó, việc đầu tư công nghệ, nâng năng suất, giảm chi phí sản xuất và nâng sức cạnh tranh lâu dài vẫn phụ thuộc vào chính doanh nghiệp.
Chia sẻ tại diễn đàn, ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), đề cập những sức ép đối với các ngành công nghiệp nền tảng và nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ xử lý từng vụ việc sang quản trị chủ động rủi ro thương mại. Các giải pháp được ông nêu gồm: tăng cường cảnh báo sớm, chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao năng lực của hiệp hội và doanh nghiệp, phối hợp trong thực thi, đồng thời gắn công tác phòng vệ thương mại với chính sách phát triển công nghiệp.
Ở góc độ thị trường trong nước, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), trao đổi về quản trị chuỗi cung ứng và sử dụng hiệu quả công cụ phòng vệ thương mại đối với các mặt hàng tiêu dùng. Nội dung này đặt việc theo dõi hàng hóa, nguồn cung và diễn biến thị trường trong mối liên hệ với khả năng phát hiện, xử lý rủi ro của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, Cục Phòng vệ thương mại hướng dẫn doanh nghiệp nhận diện dấu hiệu có thể dẫn tới việc khởi xướng điều tra và xây dựng hồ sơ yêu cầu. Những nội dung được làm rõ bao gồm: phạm vi hàng hóa, ngành sản xuất trong nước, việc chứng minh thiệt hại và mối quan hệ nhân quả. Cục cũng hướng dẫn cách thu thập dữ liệu, bảo đảm tính đại diện và nhất quán của thông tin trong hồ sơ. Qua các tình huống thực tế được trao đổi, doanh nghiệp có thêm cơ sở để chuẩn bị dữ liệu phục vụ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định.
Hàng xuất khẩu đối mặt với nhiều cuộc điều tra hơn
Ở chiều xuất khẩu, áp lực từ các vụ việc phòng vệ thương mại tiếp tục gia tăng. Cục Phòng vệ thương mại cho biết, tính đến giữa tháng 9/2026, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã bị điều tra trong 327 vụ việc tại 27 thị trường. Riêng từ đầu năm đến thời điểm thống kê, phát sinh 27 vụ việc mới, nhiều hơn bốn vụ so với tổng số vụ việc của cả năm 2025.
Số lượng vụ việc và phạm vi thị trường đặt ra yêu cầu theo dõi thường xuyên đối với cơ quan quản lý, hiệp hội và doanh nghiệp. Việc nhận diện rủi ro cần bắt đầu từ diễn biến xuất khẩu của từng mặt hàng, những thay đổi trong chính sách thương mại của thị trường nhập khẩu và các dấu hiệu cho thấy một ngành hàng có thể trở thành đối tượng điều tra.
Các cuộc điều tra tại nước ngoài cũng ngày càng chú ý đến hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ, mức độ chuyển đổi thực chất và nguồn gốc nguyên liệu trong chuỗi cung ứng. Vì vậy, khả năng cung cấp hồ sơ rõ ràng, nhất quán có ý nghĩa thiết thực đối với doanh nghiệp xuất khẩu. Hệ thống kế toán, dữ liệu sản xuất, thông tin về nguyên liệu và khả năng truy vết chuỗi cung ứng cần được chuẩn bị trong quá trình hoạt động thường xuyên, thay vì chỉ tập hợp sau khi vụ việc phát sinh.
Phân tích xu hướng trên thế giới, ông Lê Sỹ Giảng, Giám đốc Công ty TNHH GH Consults, cho biết các sản phẩm công nghiệp cơ bản như kim loại, hóa chất, nhựa và vật liệu xây dựng chiếm tỷ trọng lớn trong những vụ việc phòng vệ thương mại, trong bối cảnh dư thừa công suất và cạnh tranh về giá gay gắt. Theo tham luận của ông, các biện pháp chống lẩn tránh và xử lý gian lận xuất xứ được áp dụng ngày càng rộng rãi, với hình thức đa dạng hơn.
Bên cạnh việc chuẩn bị của từng doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng có vai trò tập hợp thông tin, hỗ trợ theo dõi diễn biến thị trường và phối hợp với cơ quan chức năng trong quá trình ứng phó. Dữ liệu thống nhất, có thể kiểm tra và cập nhật kịp thời là cơ sở để các bên đánh giá tình hình, lựa chọn cách xử lý phù hợp với từng vụ việc.
Tại Diễn đàn, ông Nguyễn Ngọc Anh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thuộc Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, nhấn mạnh đến các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn mới. Theo đó, ông Nguyễn Ngọc Anh nhấn mạnh đến yêu cầu nâng cao năng lực sản xuất cùng với việc tạo dựng động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.
Cùng với đó, một yêu cầu xuyên suốt là đưa việc theo dõi rủi ro thương mại vào hoạt động quản trị của doanh nghiệp. Cảnh báo sớm giúp doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị; dữ liệu đầy đủ giúp làm rõ quá trình sản xuất, kinh doanh; còn sự phối hợp giữa doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan quản lý giúp nâng cao khả năng xử lý vụ việc theo đúng quy định.
Trong bối cảnh hàng xuất khẩu Việt Nam tiếp tục đối mặt với các cuộc điều tra tại nhiều thị trường, sự chủ động ấy có ý nghĩa đối với việc duy trì hoạt động xuất khẩu. Ở thị trường trong nước, sử dụng công cụ phòng vệ thương mại đúng căn cứ pháp lý góp phần bảo đảm cạnh tranh công bằng và tạo điều kiện để doanh nghiệp củng cố năng lực sản xuất.