Công ty TNHH kiểm toán CPA VIETNAM
Chất lượng dịch vụ - Sự hiểu biết - Tầm nhìn toàn cầu

Chuyển hóa 50 tỷ USD vốn FDI thành động lực tăng trưởng 2 con số năm 2026

19/10/2026 - 09:42      4 lượt xem
Để vốn FDI thực sự chuyển hóa thành động lực đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số, bài toán phía trước không chỉ là thu hút thêm vốn mà phải chuyển mạnh sang thu hút có chọn lọc, nâng chất lượng dự án và tăng khả năng lan tỏa vào nền kinh tế trong nước.
Nội dung chính[ẩn][hiện]

FDI

Dòng vốn FDI đang trở thành một trong những lực đẩy quan trọng của sản xuất, xuất khẩu và tăng trưởng.

Tăng tốc giải ngân chuyển hóa vào nền kinh tế

Bức tranh thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam trong 9 tháng năm 2026 ghi nhận liên tiếp vượt dấu mốc kỷ lục với con số tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm 2025, là con số lần đầu tiên đạt được trong thu hút vốn ngoại 9 tháng.

Đáng chú ý, đà tăng không chỉ đến từ một hình thức đầu tư. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), trong 9 tháng, Việt Nam cấp phép cho 3.108 dự án FDI mới, với tổng vốn đăng ký 29,24 tỷ USD, tăng 6,2% về số dự án nhưng tăng tới 136% về vốn so với cùng kỳ năm trước. Đây là phần đóng góp lớn nhất vào tổng vốn FDI đăng ký.

Bên cạnh đó, có 948 lượt dự án đang hoạt động đăng ký tăng vốn, với tổng vốn bổ sung 14,15 tỷ USD, tăng 25,1%. Điều này có ý nghĩa không nhỏ bởi vốn tăng thêm thường gắn với những dự án đã hiện diện, có hoạt động sản xuất, kinh doanh và đã hình thành cơ sở đầu tư tại Việt Nam. Hình thức góp vốn, mua cổ phần cũng tiếp tục tăng. Trong 9 tháng có 2.335 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà ĐTNN với tổng giá trị 6,97 tỷ USD, tăng 44% so với cùng kỳ.

Nhìn vào tốc độ tăng 76,4%, có thể thấy một bức tranh rất tích cực. Điều đáng quan tâm hơn đối với mục tiêu tăng trưởng dài hạn là bao nhiêu trong số vốn đăng ký đó sẽ nhanh chóng được chuyển thành nhà máy, dây chuyền sản xuất, trung tâm nghiên cứu, hạ tầng và năng lực sản xuất mới. Ở chỉ tiêu này, diễn biến 9 tháng cũng khá rõ nét.

Vốn FDI thực hiện ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ và là mức cao nhất của 9 tháng trong 5 năm qua. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tới 82,6%, với 17,40 tỷ USD; kinh doanh bất động sản đạt 1,59 tỷ USD, chiếm 7,5%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 723,4 triệu USD, chiếm 3,4%.

Như vậy, điểm đáng chú ý không chỉ là “vốn vào” mà còn là “vốn được triển khai”. Tốc độ tăng của vốn thực hiện liên tục đạt mức cao nhất trong 5 năm và duy trì liên tiếp trong 9 tháng đầu năm 2026 cho thấy một phần đáng kể dòng vốn đang tiếp tục được chuyển hóa thành hoạt động kinh tế thực tế.

Dòng vốn đang đi vào đâu?

Một trong những tín hiệu đáng chú ý nhất của FDI 9 tháng là vai trò áp đảo của công nghiệp chế biến, chế tạo. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, tính theo ngành, trong 9 tháng năm 2026, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành trong tổng số 22 ngành kinh tế quốc dân. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt trên 22,8 tỷ USD, chiếm 45,3% tổng vốn đầu tư đăng ký. Ngành kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư trên 7,3 tỷ USD, chiếm 14,7% tổng vốn đầu tư đăng ký, ngành vận tải kho bãi vươn lên vị trí thứ ba với trên 5,4 tỷ USD, chiếm 10,9%, hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đứng thứ tư với trên 4,1 tỷ USD, chiếm 8,2%.

FDI

Trong bối cảnh các tập đoàn đa quốc gia tiếp tục tái cấu trúc chuỗi cung ứng, Việt Nam đang có lợi thế về vị trí địa kinh tế, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do, quy mô thị trường

Cơ cấu này phù hợp với yêu cầu nâng cao năng lực sản xuất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong bối cảnh các tập đoàn đa quốc gia tiếp tục tái cấu trúc chuỗi cung ứng, Việt Nam đang có lợi thế về vị trí địa kinh tế, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do, quy mô thị trường và môi trường chính trị - xã hội ổn định.

Cơ cấu nhà đầu tư mới cũng cho thấy sự tập trung đáng kể. Trong 79 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án cấp mới trong 9 tháng, Singapore dẫn đầu với 9,26 tỷ USD, chiếm 31,7% tổng vốn cấp mới; Hàn Quốc đạt 5,70 tỷ USD, Luxembourg 4,99 tỷ USD, Hong Kong (Trung Quốc) 3,01 tỷ USD, Trung Quốc 2,27 tỷ USD và Nhật Bản 1,56 tỷ USD.

Đáng chú ý, dòng vốn thông qua góp vốn, mua cổ phần có sự khác biệt về cơ cấu. Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ thu hút 2,75 tỷ USD, chiếm 39,5% tổng giá trị góp vốn, mua cổ phần; bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 2,02 tỷ USD, chiếm 28,9%. Điều này cho thấy FDI không chỉ đơn thuần là câu chuyện xây dựng nhà máy. Dòng vốn đang hiện diện ngày càng rõ trong công nghệ, dịch vụ, thương mại và các hoạt động có liên quan đến hệ sinh thái sản xuất.

Theo nhận định của Cục Đầu tư nước ngoài, nhìn chung, kết quả 9 tháng năm 2026 cho thấy dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục duy trì xu hướng tích cực cả về vốn đăng ký và vốn thực hiện. Điểm đáng chú ý là vốn đăng ký mới tăng mạnh, vốn điều chỉnh tiếp tục tăng và cơ cấu đầu tư có dấu hiệu mở rộng sang một số lĩnh vực có nhu cầu vốn lớn như logistics, năng lượng, khoa học công nghệ và hạ tầng số. Đây là những tín hiệu tích cực trong bối cảnh Việt Nam đang định hướng thu hút đầu tư theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo và mức độ liên kết với khu vực kinh tế trong nước.

FDI và nền tảng cho tăng trưởng 2 con số

Kết quả FDI diễn ra trong một bối cảnh kinh tế đặc biệt: Việt Nam đang quyết tâm thực hiện đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số và duy trì mức tăng trưởng cao này liên tục trong những năm tới. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), GDP quý III/2026 ước tăng 9,95%, đưa tốc độ tăng trưởng GDP 9 tháng lên 9,01%. Trong đó, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%.

Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,36%, đóng góp 33,85% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây cũng chính là lĩnh vực đang hấp thụ phần lớn vốn FDI thực hiện. Điều này cho thấy mối liên hệ giữa 2 xu hướng là khá rõ: FDI tập trung vào sản xuất tạo thêm năng lực công nghiệp; năng lực sản xuất mở rộng thúc đẩy xuất khẩu, việc làm, logistics và dịch vụ; qua đó tạo thêm giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Nhìn trong mối tương quan này, các chuyên gia cho rằng đối với mục tiêu tăng trưởng năm 2026, chất lượng và tốc độ giải ngân của các dự án quan trọng là yếu tố quan trọng có ý nghĩa trực tiếp hơn quy mô vốn đăng ký. Đây cũng là lý do việc vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD trở thành một chỉ dấu rất cần chú ý.

Sự thay đổi trong tư duy chính sách FDI đang diễn ra song song với sự gia tăng về quy mô dòng vốn. Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn FDI xác định chuyển từ tư duy “thu hút vốn” sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp trong nước làm các tiêu chí quan trọng. Nghị quyết đồng thời nhấn mạnh không thu hút đầu tư bằng mọi giá, không đánh đổi môi trường, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh để lấy tăng trưởng.

Theo chuyên gia kinh tế TS. Nguyễn Minh Phong, Việt Nam đã qua giai đoạn thu hút đầu tư bằng mọi giá và đang chuyển sang thu hút có chọn lọc. Ông cho rằng vấn đề không chỉ là thu hút FDI mà phải khai thác được những giá trị mà dòng vốn này mang lại, đặc biệt là chuyển giao công nghệ và đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của các tập đoàn nước ngoài. Quan điểm này đặt ra một thước đo mới cho thành công của chính sách FDI: không chỉ bao nhiêu tỷ USD được đăng ký, mà Việt Nam nhận được gì sau mỗi dự án.

Nếu một dự án tạo ra năng lực sản xuất mới nhưng phần lớn linh kiện, nguyên liệu, dịch vụ và công nghệ đều được cung ứng từ bên ngoài, tác động lan tỏa trong nước sẽ hạn chế. Ngược lại, nếu dự án kéo theo mạng lưới nhà cung ứng nội địa, trung tâm R&D, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ, tác động tới năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế sẽ lớn hơn nhiều.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia cũng nhấn mạnh yêu cầu này khi phân tích xu hướng FDI thế hệ mới. Theo ông, lợi thế của Việt Nam trong thu hút vốn công nghệ cao sẽ không thể chỉ dựa vào ưu đãi hay chi phí thấp; yếu tố quyết định ngày càng nằm ở năng lực hấp thụ, khả năng kết nối và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp trong nước. Đây chính là “nút thắt” quan trọng nhất nếu muốn biến FDI thành động lực của tăng trưởng 2 con số.

Cơ hội lớn trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gia tăng

Theo nhìn nhận của các nhà đầu tư nước ngoài, dòng vốn FDI quốc tế trong những năm tới sẽ không tự động chảy vào Việt Nam chỉ đơn thuần bởi chi phí sản xuất cạnh tranh. Xu hướng chọn điểm đến và khẩu vị của các nhà đầu tư sẽ có nhiều thay đổi với những lựa chọn “kép” ngày càng gia tăng, các tập đoàn toàn cầu đang đồng thời quan tâm đến nhiều yếu tố: khả năng tiếp cận năng lượng ổn định, hạ tầng logistics, chất lượng nhân lực, hạ tầng số, tính minh bạch và khả năng dự báo của chính sách, tốc độ xử lý thủ tục, hệ sinh thái nhà cung cấp và khả năng năng lực nghiên cứu - phát triển.

Từ góc nhìn cộng đồng doanh nghiệp châu Âu, Chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert cho rằng Việt Nam ngày càng trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng các doanh nghiệp châu Âu đặc biệt quan tâm tới chất lượng môi trường đầu tư, hạ tầng, năng lượng và khả năng vận hành ổn định của nền kinh tế.

Điều này đồng nghĩa với việc cuộc cạnh tranh FDI trong giai đoạn mới sẽ chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế và hệ sinh thái đầu tư. Đây cũng là vấn đề có ý nghĩa với mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10% trở lên; riêng công nghiệp - xây dựng được định hướng tăng bình quân 12,3%, trong đó chế biến, chế tạo tăng 12,4%.

FDI

Cạnh tranh thu hút FDI trong giai đoạn mới sẽ chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế và hệ sinh thái đầu tư.

Muốn đạt tốc độ này, nền kinh tế cần lượng vốn đầu tư rất lớn. Theo phân tích của TS. Cấn Văn Lực, tăng trưởng cao đòi hỏi vốn đầu tư toàn xã hội tương đương khoảng 38-40% GDP, trong đó khu vực tư nhân phải đóng góp tỷ trọng lớn. Ông đồng thời lưu ý cần đa dạng hóa nguồn vốn và nâng hiệu quả sử dụng vốn thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng ngân hàng. Trong cấu trúc nguồn lực đó, FDI có vai trò quan trọng bởi đây không chỉ là vốn mà còn đi kèm công nghệ, thị trường, quản trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu.

Tăng năng lực hấp thụ để dòng vốn 50 tỷ USD tạo thêm tăng trưởng

Từ kết quả thu hút FDI trong 9 tháng, các chuyên gia khuyến nghị cần chú trọng các điểm nhấn giải pháp ưu tiên để đưa dòng vốn FDI trên 50 tỷ USD sớm hấp thụ vào nền kinh tế, tạo thêm giá trị thúc đẩy tăng trưởng. Theo đó, đẩy nhanh chuyển vốn đăng ký thành vốn thực hiện; ưu tiên các dự án có khả năng nâng năng suất và tạo hiệu ứng lan tỏa, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu, thiết bị điện tử, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng sạch, logistics và các hoạt động R&D là những lĩnh vực có thể tạo ra giá trị gia tăng cao hơn nếu Việt Nam chuẩn bị đủ hạ tầng và nhân lực.

Đồng thời, tăng năng lực hấp thụ của doanh nghiệp Việt Nam bởi đây là một trong những yếu tố quyết định chất lượng FDI trong giai đoạn tới. Khi doanh nghiệp trong nước đủ năng lực trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn đa quốc gia, mỗi dự án FDI sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn hơn nhiều so với bản thân số vốn đăng ký.

TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng Việt Nam cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ và đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp này. Còn theo TS. Cấn Văn Lực, cùng với đầu tư và tiếp nhận công nghệ, Việt Nam cần coi đổi mới sáng tạo và năng lực hấp thụ công nghệ là những trụ cột song hành của mô hình tăng trưởng mới.

Trong quý IV, triển vọng thu hút FDI vẫn có cơ sở tích cực. Kết quả 9 tháng năm 2026 cho thấy xu hướng dòng vốn ngoại vào Việt Nam đang tăng mạnh. Thách thức của quý IV và những năm tới là biến dòng vốn này thành năng lực tăng trưởng thực chất, bền vững và có sức lan tỏa rộng hơn trong nền kinh tế. Việt Nam đang đứng trước một chu kỳ đầu tư mới khi hạ tầng giao thông, đô thị, logistics, năng lượng và hạ tầng số được mở rộng. Đầu tư công nếu được triển khai hiệu quả, có thể tạo ra hạ tầng nền tảng để kéo theo đầu tư tư nhân và FDI.

Nếu 50,36 tỷ USD vốn đăng ký sau 9 tháng được chuyển hóa nhanh hơn thành vốn thực hiện; nếu dòng vốn mới tiếp tục tập trung vào chế biến, chế tạo, công nghệ và các ngành có năng suất cao; đồng thời liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước được cải thiện, FDI có thể đóng góp không chỉ bằng quy mô vốn mà còn bằng năng suất, xuất khẩu, công nghệ và năng lực cạnh tranh. Đó cũng là điểm giao giữa mục tiêu thu hút FDI và mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

19/10/2026 3
Tại Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề xuất doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn được hưởng chính sách hỗ trợ trong 2–3 năm sau khi vượt ngưỡng quy mô, nhằm tạo khoảng đệm để doanh nghiệp thích ứng với các điều kiện mới khi mở rộng hoạt động.
Xem chi tiết
19/10/2026 4
Mức tăng trưởng 9 tháng năm 2026 đạt cao nhất trong 15 năm qua, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp châu Âu đối với Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức cao. MBS Research kỳ vọng GDP cả năm tăng 9-9,5%, cho thấy triển vọng tăng trưởng và đầu tư của Việt Nam vẫn tích cực.
Xem chi tiết
16/10/2026 13
Hoạt động xây dựng tăng 12,22% trong 9 tháng đầu năm 2026, dẫn đầu tốc độ tăng trưởng của 20 ngành kinh tế cấp I. Bộ Xây dựng đặt mục tiêu tăng tốc trong quý IV để hoàn thành kịch bản tăng trưởng cả năm.
Xem chi tiết
16/10/2026 20
Dù vốn đầu tư thu hút vào các khu chế xuất, khu công nghiệp TP. Hồ Chí Minh vượt 36,62% kế hoạch năm, nhưng số dự án cấp mới vẫn giảm 23,44% so với cùng kỳ. Thành phố đang tập trung tháo gỡ vướng mắc về đất đai, giá điện và đẩy nhanh tiến độ các khu công nghiệp mới.
Xem chi tiết
16/10/2026 10
Sở hữu cảnh quan thiên nhiên, văn hóa truyền thống, làng nghề và sản phẩm OCOP đặc sắc, nông thôn Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển du lịch. Tuy nhiên, để biến lợi thế thành động lực tăng trưởng, các địa phương cần đổi mới cách làm, nâng cao chất lượng trải nghiệm, kết nối thị trường và bảo đảm cộng đồng được hưởng lợi bền vững.
Xem chi tiết
15/10/2026 18
Ngành du lịch TP. Hồ Chí Minh kỳ vọng gia tăng sức hút điểm đến, mở rộng trải nghiệm du khách, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số năm 2026.
Xem chi tiết
15/10/2026 13
Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) được đề xuất sửa đổi, hoàn thiện nhiều quy định về lập kế hoạch tài chính, đầu tư công, phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và điều hành ngân sách. Các nội dung này hướng tới tăng cường tính đồng bộ trong quản lý tài chính công, gắn kế hoạch đầu tư công với khả năng cân đối nguồn lực, đồng thời hoàn thiện cơ chế lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước.
Xem chi tiết
15/10/2026 20
Xuất khẩu rau quả Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. 9 tháng năm 2026 đạt 7,35 tỷ USD, tăng 19,9%, dư địa thị trường mở rộng, hướng tới kỷ lục 10 tỷ USD.
Xem chi tiết
Trụ sở chính
VP. Đại diện
CN. Miền Bắc
CN. TP Hồ Chí Minh
Key thời gian làm việc
Bản quyền © 2026 KIỂM TOÁN CPA VIETNAM. Bảo lưu mọi quyền. Thiết kế website bởi Tất Thành
Thống kê truy cập
Tổng truy cập: 487958 Đang truy cập: 325
Chính sách website