Với hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển rộng trên 1 triệu km² và vị trí trên các tuyến hàng hải quốc tế, Việt Nam có điều kiện phát triển công nghiệp hàng hải thành hệ sinh thái sản xuất, dịch vụ, logistics, gia tăng giá trị và mở rộng dư địa tăng trưởng kinh tế biển quốc gia mới.

Việt Nam có lợi thế phát triển công nghiệp hàng hải thành hệ sinh thái sản xuất, dịch vụ, logistics, gia tăng giá trị và mở rộng dư địa tăng trưởng kinh tế biển. Ảnh: T.H
Việt Nam có lợi thế lớn để phát triển kinh tế biển, nhưng lợi thế tự nhiên chỉ trở thành động lực tăng trưởng khi được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, dịch vụ và công nghệ. Với công nghiệp hàng hải, yêu cầu không chỉ là mở rộng cảng biển hay đội tàu, mà phải hình thành chuỗi giá trị từ đóng mới, sửa chữa tàu, cơ khí, thiết bị, vận tải biển, logistics đến dịch vụ kỹ thuật và quản trị số.
Định hướng này phù hợp với Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết nhấn mạnh vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đồng thời đặt yêu cầu phát triển hạ tầng, không gian biển và quản trị biển theo hướng bền vững.
Trong hệ sinh thái đó, công nghiệp tàu thủy giữ vai trò quan trọng bởi năng lực đóng mới, sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện quyết định một phần khả năng tự chủ của kinh tế biển. Thị trường gồm tàu vận tải, tàu dịch vụ, tàu công trình, tàu chuyên dụng và phương tiện phục vụ các ngành kinh tế biển mới. Nâng năng lực đóng tàu trong nước cũng tạo đầu ra cho cơ khí, điện, điện tử, vật liệu, thiết bị hàng hải và tự động hóa.
Vận tải biển giữ vai trò lớn trong lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu, tạo nhu cầu thường xuyên đối với đội tàu, sửa chữa, bảo dưỡng và logistics. Khi năng lực trong nước được nâng lên đồng bộ, một phần nhu cầu sản phẩm, dịch vụ hàng hải có thể được cung ứng trong nước, góp phần giảm chi phí, tăng tính chủ động của chuỗi logistics và tạo thêm thị trường cho công nghiệp hỗ trợ.
Một nền tảng quan trọng là Quyết định số 1061/QĐ-BXD ngày 29/6/2026 của Bộ Xây dựng phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể kết cấu hạ tầng hàng hải thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Quyết định tạo cơ sở tổ chức lại không gian hạ tầng hàng hải phù hợp với yêu cầu phát triển mới.
Đáng chú ý, định hướng hình thành các khu công nghiệp tàu biển tập trung tại ba miền Bắc, Trung, Nam, gắn đóng mới, sửa chữa với công nghiệp phụ trợ và hệ thống cảng, mở ra khả năng tổ chức lại ngành theo hướng chuyên môn hóa. Khi nhà máy đóng tàu, cơ sở sửa chữa, doanh nghiệp cơ khí, kho bãi, logistics và cảng biển được kết nối, chi phí có thể được tối ưu và hình thành dịch vụ dùng chung.
Tại Hải Phòng, khu bến Văn Úc được định hướng hình thành khu công nghiệp tàu thủy tập trung với chức năng đóng mới, sửa chữa, phá dỡ tàu và công nghiệp phụ trợ. Tại Hiệp Phước, quy hoạch cũng định hướng khu công nghiệp tàu thủy tập trung với các chức năng tương tự, tạo cơ sở phát triển cụm sản xuất hàng hải.
Đồng thời, quy hoạch hạ tầng hàng hải đặt cảng biển trong mạng lưới kết nối với công nghiệp và logistics. Các khu bến cửa ngõ, trung chuyển quốc tế và khu bến gắn với vùng sản xuất sẽ tạo dòng hàng, mở rộng thị trường dịch vụ và tăng hiệu quả kết nối. Khu bến cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, khu bến Liên Chiểu và khu bến Nam Đồ Sơn là những không gian có vai trò trong định hướng này.
Các khu trung tâm công nghiệp hàng hải sẽ tạo ra một chuỗi giá trị khép kín: cảng biển tạo thị trường; đội tàu tạo nhu cầu; công nghiệp tàu thủy cung cấp năng lực đóng mới, sửa chữa; công nghiệp hỗ trợ cung cấp linh kiện, thiết bị; logistics bảo đảm lưu chuyển; còn khoa học công nghệ và nhân lực quyết định năng suất. Liên kết các mắt xích sẽ giúp hình thành chuỗi cung ứng, giữ lại nhiều hơn giá trị trong nước.
Để biến định hướng thành năng lực sản xuất, cần hoàn thiện chính sách phát triển đội tàu gắn với đơn hàng đóng mới trong nước, chiến lược công nghiệp đóng tàu dài hạn và các cụm liên kết đóng tàu - cảng biển - logistics. Cùng với đó là cơ chế về tín dụng, thuế, đất đai, đầu tư, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư chiều sâu.

Quy hoạch hạ tầng hàng hải đặt cảng biển trong mạng lưới kết nối với công nghiệp và logistics. Ảnh: Lê Toàn
Phát triển công nghiệp hàng hải trong giai đoạn mới cũng cần gắn với thiết kế số, tự động hóa, dữ liệu, vật liệu mới, công nghệ xanh và quản trị thông minh. Cùng với đó là nhân lực kỹ thuật cao cần được phát triển song hành với đầu tư công nghệ và liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu. Đây là nền tảng để nâng giá trị sản phẩm thay vì chỉ mở rộng quy mô sản xuất.
Về dài hạn, hiệu quả của công nghiệp hàng hải cần được nhìn qua giá trị gia tăng tạo ra trong nước, mức độ phát triển của công nghiệp hỗ trợ, chi phí logistics, năng lực công nghệ, chất lượng việc làm và khả năng tham gia chuỗi cung ứng quốc tế, thay vì chỉ tính số tàu đóng mới hay công suất cảng.
Với định hướng từ Nghị quyết 20-NQ/TW và không gian hạ tầng được cụ thể hóa tại Quyết định 1061/QĐ-BXD, Việt Nam đang có thêm cơ sở tổ chức lại và phát triển công nghiệp hàng hải theo hướng tập trung, liên kết và hiện đại. Chỉ khi các mắt xích được kết nối, công nghiệp hàng hải sẽ mở rộng dư địa tăng trưởng, gia tăng giá trị kinh tế biển và tạo thêm động lực cho công nghiệp Việt Nam.