Giá xuất khẩu hàng hóa quý III/2026 tăng 4,40% so với quý trước, trong khi giá nhập khẩu tăng 1,53%, đưa tỷ giá thương mại hàng hóa tăng 2,83%. Diễn biến giá giữa các nhóm hàng tiếp tục phân hóa, với nhiều mặt hàng công nghiệp, nhiên liệu và nguyên liệu ghi nhận mức tăng.

Giá xuất khẩu hàng hóa tăng 2,38%
Theo báo cáo tổng quan chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, chỉ số giá xuất khẩu, nhập khẩu quý III và 9 tháng năm 2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý III/2026 tăng 4,40% so với quý trước và tăng 5,87% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong đó, giá nhóm nông sản, thực phẩm tăng 1,46% so với quý trước; nhóm nhiên liệu tăng 7,05%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 4,77%.
Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 2,38% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm nhiên liệu tăng 3,80%, hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 3,35%, trong khi nhóm nông sản, thực phẩm giảm 4,06%.
Một số mặt hàng xuất khẩu ghi nhận mức tăng khá cao. Giá sắn và sản phẩm từ sắn tăng 17,96%, chủ yếu do nguồn cung sắn nguyên liệu trong nước hạn chế theo mùa vụ, trong khi nhu cầu nhập khẩu từ Trung Quốc - thị trường tiêu thụ sắn chủ yếu của Việt Nam - vẫn ở mức cao.
Giá xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 17,02% do giá nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi như ngô, đậu tương trên thị trường thế giới tăng, cùng với chi phí vận tải, logistics tăng. Giá điện thoại và thiết bị di động tăng 17,49%, chủ yếu do sự dịch chuyển sang các dòng điện thoại thông minh tích hợp công nghệ cao và chi phí linh kiện đầu vào tăng.
Giá xăng dầu các loại xuất khẩu tăng 7,15% trong bối cảnh giá xăng dầu và các sản phẩm dầu mỏ trên thị trường thế giới tăng, nguồn cung bị thắt chặt bởi căng thẳng địa chính trị và gián đoạn vận chuyển.
Ở chiều ngược lại, giá xuất khẩu cà phê giảm 16,66% do nguồn cung trên thị trường quốc tế gia tăng và thời tiết thuận lợi tại các vùng trồng trọng điểm. Giá gạo giảm 6,61%, rau quả giảm 7,23%, than giảm 12,91% do cạnh tranh xuất khẩu gia tăng, nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu nhập khẩu tại một số thị trường chủ lực giảm.
Cùng với giá xuất khẩu, chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa quý III/2026 tăng 1,53% so với quý trước và tăng 5,92% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, chỉ số này tăng 2,56%.
Trong đó, giá nhập khẩu nhóm nông sản, thực phẩm tăng 1,05%; nhiên liệu tăng 2,42%; hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 2,62%.
Giá một số mặt hàng phục vụ sản xuất tăng so với cùng kỳ. Hóa chất tăng 10,11%, phân bón tăng 7,02%, linh kiện ô tô tăng 7,35%, điện thoại các loại và linh kiện tăng 4,44%, dây điện và dây cáp điện tăng 3,98%.
Giá khí đốt hóa lỏng tăng 4,9% do nguồn cung trên thị trường quốc tế chịu ảnh hưởng bởi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông, làm tăng chi phí vận chuyển và bảo hiểm. Giá xăng dầu các loại nhập khẩu tăng 3,33%, chủ yếu do giá dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ trên thị trường thế giới tăng.
Một số nhóm đầu vào lại giảm giá, tạo yếu tố thuận lợi cho nhập khẩu. Giá nguyên phụ liệu dược phẩm giảm 9,02% nhờ các thị trường sản xuất lớn như Ấn Độ và Trung Quốc mở rộng công suất. Giá rau quả giảm 4,11% khi nguồn cung tại ASEAN và Trung Quốc dồi dào; giá ô tô nguyên chiếc giảm 0,93% trong bối cảnh nguồn cung và tồn kho tương đối cao, cạnh tranh trên thị trường gia tăng.
Tỷ giá thương mại hàng hóa giảm nhẹ
Diễn biến giá xuất nhập khẩu cũng được phản ánh qua tỷ giá thương mại hàng hóa (TOT) - chỉ số giá xuất khẩu so với chỉ số giá nhập khẩu. Quý III/2026, TOT tăng 2,83% so với quý trước và giảm 0,04% so với cùng kỳ năm 2025.
Tính chung 9 tháng, TOT giảm nhẹ 0,17% so với cùng kỳ năm trước do chỉ số giá nhập khẩu tăng cao hơn chỉ số giá xuất khẩu. Trong đó, TOT của xăng dầu các loại tăng 3,7%; cao su tăng 1,06%; thủy sản tăng 0,81%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 0,52%; sắt, thép tăng 0,43%. Ngược lại, hàng rau quả giảm 3,25%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 3,02%.
Theo Cục Thống kê, diễn biến này phản ánh điều kiện thương mại kém thuận lợi hơn, trong bối cảnh giá một số mặt hàng năng lượng, nguyên liệu và linh kiện trên thị trường thế giới duy trì ở mức cao, chịu tác động từ biến động địa chính trị và gián đoạn chuỗi cung ứng quốc tế.
Có thể thấy, giá nhập khẩu tăng trong 9 tháng đi cùng với mức tăng của nhập khẩu và lượng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.
Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê cho biết, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, trong đó nhập khẩu tăng cao và lượng nguyên vật liệu đầu vào được tích lũy cho các kỳ sản xuất tiếp theo.
Theo bà Nguyễn Thị Hương, tích lũy tài sản tăng gần 18%, trong đó có tích lũy tài sản lưu động, bao gồm dự trữ hàng hóa của khu vực FDI và các khu vực khác. Lượng hàng dự trữ này cần được nhìn nhận theo tính chất hàng hóa, bởi tồn kho nguyên vật liệu phục vụ sản xuất khác với tồn kho sản phẩm đầu ra. Nguồn nguyên vật liệu đã được tích lũy có thể tiếp tục được đưa vào các kỳ sản xuất tiếp theo.
Bên cạnh giá hàng hóa quốc tế, biến động tỷ giá cũng tác động đến chi phí nhập khẩu nguyên liệu. Ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia kinh tế trưởng ADB tại Việt Nam cho rằng, lãi suất USD cao hơn có thể khiến đồng USD mạnh lên, tạo áp lực đối với đồng Việt Nam và tâm lý thị trường. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn có những nền tảng hỗ trợ sức chống chịu, trong đó tăng trưởng duy trì tích cực, FDI khả quan và sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng.
Vì thế, diễn biến giá nhập khẩu, tỷ giá và nguồn nguyên vật liệu đầu vào sẽ tiếp tục gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất trong những tháng cuối năm. Lượng nguyên vật liệu đã được tích lũy có thể được đưa vào các kỳ sản xuất tiếp theo, phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.