Công ty TNHH kiểm toán CPA VIETNAM
Chất lượng dịch vụ - Sự hiểu biết - Tầm nhìn toàn cầu

Ngành phân bón nâng giá trị, tăng tự chủ, mở rộng hội nhập

28/09/2026 - 09:29      6 lượt xem
Ngành phân bón Việt Nam đang chuyển từ mở rộng sản lượng sang nâng cao tự chủ, xanh hóa và hội nhập sâu. Xuất khẩu tăng mạnh, thị trường được đa dạng hóa, trong khi đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và phát triển sản phẩm giá trị cao đang mở ra hướng đi mới, gắn ngành phân bón với nông nghiệp hiện đại, bền vững.
Nội dung chính[ẩn][hiện]

Ngành phân bón nâng giá trị, tăng tự chủ, mở rộng hội nhập

8 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu hơn 2,05 triệu tấn phân bón.

Mở rộng thị trường, nâng năng lực tự chủ

Ngành phân bón Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới khi năng lực sản xuất trong nước được củng cố, xuất khẩu tăng nhanh nhưng yêu cầu về tự chủ nguyên liệu và công nghệ ngày càng đặt ra rõ nét. Từ một ngành chủ yếu đáp ứng nhu cầu đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, phân bón đang được nhìn nhận trong mối liên hệ với an ninh lương thực, an ninh kinh tế và năng lực tự chủ của nền sản xuất.

Ngành Phân bón Việt Nam, 8 tháng năm 2026, xuất khẩu hơn 2,05 triệu tấn phân bón, tăng 36,6% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch đạt hơn 1,11 tỷ USD, tăng 78,2%. Các sản phẩm chủ lực gồm urê, NPK, DAP... Mức tăng về giá trị cao hơn đáng kể so với sản lượng cho thấy cơ cấu sản phẩm và thị trường xuất khẩu đang có những chuyển biến tích cực.

Về thị trường, Campuchia tiếp tục là điểm đến lớn nhất với 475.307 tấn, trị giá hơn 211 triệu USD. Hàn Quốc đạt 159.688 tấn, hơn 113 triệu USD; Philippines 152.276 tấn, gần 81 triệu USD; Malaysia 103.373 tấn, gần 58 triệu USD và Lào 69.132 tấn, gần 24 triệu USD.

Việc xuất khẩu tăng đồng thời mở rộng sang nhiều thị trường cho thấy doanh nghiệp đang từng bước đa dạng hóa đầu ra, giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống. Đây cũng là giải pháp giúp phân tán rủi ro trước biến động thương mại, logistics và giá nguyên liệu quốc tế.

Bên cạnh các thị trường hiện hữu, Ấn Độ được đánh giá còn nhiều dư địa khi nhu cầu phân bón khoảng 18-20 triệu tấn mỗi năm. Khác biệt về mùa vụ giữa hai nước cũng có thể tạo điều kiện để doanh nghiệp điều tiết sản lượng xuất khẩu vào những thời điểm nhu cầu trong nước giảm.

Ở chiều nhập khẩu, lượng phân bón nhập về Việt Nam trong 8 tháng đạt gần 2,6 triệu tấn, trị giá 890,2 triệu USD, giảm lần lượt 40,3% và 41,1% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này phản ánh khả năng đáp ứng nguồn cung trong nước được cải thiện, đồng thời cho thấy năng lực sản xuất nội địa ngày càng có vai trò lớn hơn.

Trung Quốc vẫn là nguồn cung lớn nhất với 1,02 triệu tấn, trị giá hơn 301 triệu USD, chiếm gần 40% tổng lượng nhập khẩu. Nga đứng thứ hai với 352.280 tấn, trị giá 169 triệu USD; tiếp đến là Nhật Bản, Lào và Hàn Quốc. Đáng chú ý, Belarus dù chỉ đứng thứ 7 về lượng nhập khẩu lũy kế 8 tháng với 63.905 tấn, riêng tháng 8 đã đạt khoảng 20.000 tấn, trị giá 7,8 triệu USD.

Cơ cấu này cho thấy doanh nghiệp đang có xu hướng đa dạng hóa nguồn cung. Tuy nhiên, tự chủ nguyên liệu vẫn là bài toán lớn. Việt Nam hiện còn phải nhập khẩu toàn bộ nhu cầu kali cùng lượng đáng kể amoniac và lưu huỳnh phục vụ sản xuất. Do đó, chi phí sản xuất vẫn chịu tác động đáng kể từ giá năng lượng, nguyên liệu và những biến động trên thị trường quốc tế.

Tăng tự chủ vì vậy không chỉ được hiểu là giảm nhập khẩu thành phẩm mà quan trọng hơn là nâng khả năng chủ động nguyên liệu, công nghệ và năng lực sản xuất. Đây sẽ là yếu tố quyết định để ngành phân bón duy trì sức cạnh tranh trước những biến động của thị trường thế giới.

Chuyển đổi xanh, công nghệ mở hướng phát triển mới

Những yêu cầu về tự chủ nguyên liệu, kiểm soát chi phí và nâng sức cạnh tranh đặt ngành phân bón trước nhu cầu chuyển đổi mô hình phát triển. Đây cũng là hướng phù hợp với Quyết định số 726/QĐ-TTg ngày 16/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040.

Ngành phân bón nâng giá trị, tăng tự chủ, mở rộng hội nhập

Ngành phân bón chuyển từ cạnh tranh dựa trên sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng.

Theo đó, Chiến lược định hướng ngành hóa chất phát triển hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và đáp ứng tốt hơn nhu cầu trong nước.

Định hướng Chiến lược đã mở ra quá trình chuyển từ cạnh tranh dựa trên sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng của ngành phân bón. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi xanh và mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, các doanh nghiệp ngành phân bón sẽ phải chú trọng hơn đến tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu và giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi sản xuất.

Đáng chú ý, ngoài phân bón vô cơ truyền thống, các sản phẩm hữu cơ, sinh học, phân bón hiệu suất cao và dòng chuyên dụng được dự báo sẽ có thêm dư địa phát triển. Hướng chuyển dịch này phù hợp với yêu cầu sử dụng phân bón tiết kiệm, cân đối và hiệu quả, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Để phát triển dài hạn, ngành phân bón cần hình thành nền công nghiệp có khả năng chống chịu cao, từng bước nâng mức độ tự chủ về nguyên liệu và công nghệ. Năm trụ cột gồm tự chủ, xanh, thông minh, liên kết và hội nhập có thể tạo nền tảng để doanh nghiệp nâng sức cạnh tranh trong môi trường thương mại ngày càng khắt khe.

Hiện thực hóa mục tiêu này, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách; thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới công nghệ; hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đồng thời tăng liên kết giữa doanh nghiệp hóa chất, ngành nông nghiệp, viện nghiên cứu và người sản xuất. Qua đó hình thành chuỗi giá trị phân bón hiệu quả, giảm chi phí và nâng giá trị sản phẩm.

Trong bối cảnh địa chính trị, thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu còn nhiều biến động, xuất khẩu phân bón vẫn có dư địa tăng trưởng. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh dài hạn sẽ phụ thuộc vào khả năng kiểm soát chi phí, chủ động nguyên liệu, đổi mới công nghệ và đa dạng hóa thị trường.

Ngành phân bón hướng tới tự chủ, xanh và hội nhập sâu vì vậy không chỉ là yêu cầu trước mắt mà là định hướng phát triển dài hạn. Từ năng lực sản xuất, thị trường xuất khẩu đến xanh hóa và số hóa, ngành đang có cơ sở nâng sức cạnh tranh, gia tăng giá trị sản phẩm, đồng hành cùng nền nông nghiệp hiện đại và đóng góp hiệu quả hơn cho tăng trưởng bền vững.

29/09/2026 2
Huy động thêm vốn, đất đai, lao động chưa đủ để tạo đột phá tăng trưởng mà còn cần tháo gỡ rào cản thể chế, cải thiện chất lượng phân bổ và kết nối các nguồn lực để chuyển hóa thành năng suất và giá trị gia tăng.
Xem chi tiết
29/09/2026 2
Tính đến giữa tháng 9/2026, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã đối mặt với 327 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại tại 27 thị trường. Trong khi đó, Việt Nam đang duy trì 37 biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu.
Xem chi tiết
29/09/2026 3
Cùng một mức thuế suất thu nhập như doanh nghiệp, nhưng hộ kinh doanh vẫn chưa được hưởng cùng một cơ chế tính thuế. Với những hộ có doanh thu lớn, việc tính thuế thu nhập đã chuyển sang tính trên phần thu nhập sau khi trừ chi phí, song hộ vẫn nằm ngoài chuỗi khấu trừ thuế giá trị gia tăng (VAT). Khi quy mô kinh doanh ngày càng lớn và dữ liệu mua vào, bán ra ngày càng đầy đủ, sự khác biệt này trở thành khoảng trống đáng chú ý trong chuỗi VAT.
Xem chi tiết
28/09/2026 4
Trong tháng 9/2026, nhiều cơ quan báo chí quốc tế đánh giá tích cực về triển vọng kinh tế Việt Nam, nhấn mạnh đà tăng trưởng, sức hút đầu tư, vai trò ngày càng lớn trong chuỗi cung ứng và khả năng thích ứng trước biến động toàn cầu, qua đó củng cố vị thế điểm sáng khu vực.
Xem chi tiết
28/09/2026 5
Với hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển rộng trên 1 triệu km² và vị trí trên các tuyến hàng hải quốc tế, Việt Nam có điều kiện phát triển công nghiệp hàng hải thành hệ sinh thái sản xuất, dịch vụ, logistics, gia tăng giá trị và mở rộng dư địa tăng trưởng kinh tế biển quốc gia mới.
Xem chi tiết
26/09/2026 11
Nghị định số 358/2026/NĐ-CP đã mở rộng đáng kể không gian hoạt động và công cụ xử lý nợ của Công ty TNHH MTV Mua bán nợ Việt Nam (DATC), từ mua bán nợ, xử lý tài sản đến chuyển nợ thành vốn góp, tái cơ cấu và hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp. Một hành lang pháp lý mới đang được thiết lập, nhưng để những cơ chế này thực sự chuyển hóa thành năng lực xử lý nợ của nền kinh tế, bài toán tiếp theo là tạo dựng cho DATC một nguồn lực tài chính đủ mạnh, tương xứng với quy mô thị trường nợ ngày càng lớn.
Xem chi tiết
26/09/2026 11
Bộ Tài chính đề nghị các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương đăng ký kế hoạch vốn giải ngân hằng tháng sát với tiến độ thực hiện dự án, khả năng giải ngân thực tế; đồng thời bảo đảm số liệu cập nhật trên các hệ thống đầy đủ, chính xác, thống nhất và đúng thời hạn.
Xem chi tiết
26/09/2026 11
Thay vì chỉ “chọn đất, chọn ưu đãi”, nhà đầu tư FDI ngày càng lựa chọn điểm đến dựa trên năng lực của cả hệ sinh thái. Hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ đồng bộ không chỉ tạo lợi thế thu hút vốn mà còn góp phần rút ngắn thời gian triển khai dự án, giúp giữ chân và thúc đẩy mở rộng đầu tư.
Xem chi tiết
Trụ sở chính
VP. Đại diện
CN. Miền Bắc
CN. TP Hồ Chí Minh
Key thời gian làm việc
Bản quyền © 2026 KIỂM TOÁN CPA VIETNAM. Bảo lưu mọi quyền. Thiết kế website bởi Tất Thành
Thống kê truy cập
Tổng truy cập: 487958 Đang truy cập: 325
Chính sách website