Công ty TNHH kiểm toán CPA VIETNAM
Chất lượng dịch vụ - Sự hiểu biết - Tầm nhìn toàn cầu

Kết dư ngân sách địa phương: Hiểu rõ bản chất để xác định đúng

30/06/2026 - 10:10      96 lượt xem
(BKTO) - Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 (Luật NSNN) và Nghị định số 73/2026/NĐ-CP (NĐ 73) đã đặt ra những chuẩn mực mới, nhất quán hơn trong quản lý NSNN, trong đó có việc xác định kết dư ngân sách địa phương (NSĐP) một cách đúng đắn giúp Hội đồng nhân dân (HĐND) các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sử dụng đúng nguồn lực ngân sách này của địa phương mình. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật NSNN cho thấy, việc xác định "kết dư NSĐP", đặc biệt đối với ngân sách cấp tỉnh có phát sinh nghiệp vụ vay để đầu tư phát triển (ĐTPT) và trả nợ gốc hiện đang tồn tại những quan điểm, cách hiểu khác nhau.
Nội dung chính[ẩn][hiện]

Tính cân đối ngân sách là một trong những nguyên tắc quản lý tài chính công giữ vai trò nền tảng trong việc duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô của một quốc gia cũng như của từng cấp chính quyền địa phương. Ảnh minh họa

Các khái niệm cốt lõi trong cân đối ngân sách địa phương

Để làm rõ vấn đề nêu trên, trước hết cần thống nhất cách hiểu về các khái niệm nền tảng được quy định trong Luật NSNN và các văn bản dưới luật:

Tính cân đối dự toán thu, chi ngân sách địa phương, bội thu ngân sách

Tính cân đối ngân sách là một trong những nguyên tắc quản lý tài chính công giữ vai trò nền tảng trong việc duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô của một quốc gia cũng như của từng cấp chính quyền địa phương.

Đối với địa phương, tính cân đối trong dự toán thu, chi NSĐP được hiểu là trạng thái tổng các nguồn thu được thụ hưởng theo phân cấp (bao gồm thu nội địa 100%, thu phân chia theo tỷ lệ %, và thu bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên) phải tương thích và vừa vặn để đáp ứng cho tổng các nhiệm vụ chi trong niên độ dự toán. Nói cách khác, về mặt lý thuyết điều hành và lập pháp, dự toán thu và dự toán chi luôn được thiết kế ở trạng thái cân bằng, không có số thừa và không có số thiếu vô định hướng.

Tuy nhiên, trong nền tài chính hiện đại, sự xuất hiện của các yếu tố đặc thù như vay bù đắp bội chi để ĐTPT hoặc bố trí nguồn để trả nợ gốc chính là các công cụ điều chỉnh trạng thái cân bằng này. Khi xuất hiện nhu cầu vay ĐTPT (bội chi), trạng thái cân bằng dự toán được mở rộng sang cân đối tổng thể: Tổng chi (không gồm trả nợ gốc) = Tổng thu (không gồm vay) + Số bội chi được phép.

Khi xuất hiện nghĩa vụ trả nợ gốc đến hạn mà không dùng nguồn vay mới để đảo nợ, cơ chế lập dự toán bắt buộc phải tạo ra một khoản "bội thu kỹ thuật" (Dự toán thu lớn hơn dự toán chi cân đối) để lấy chính phần chênh lệch này làm nguồn trả nợ gốc (khoản chi vốn không được hạch toán vào mục chi cân đối). Đây cũng chính là khái niệm về bội thu ngân sách.

Kết dư ngân sách

Theo Khoản 15 Điều 4 Luật NSNN, kết dư ngân sách cấp tỉnh được định nghĩa là chênh lệch lớn hơn giữa tổng thu ngân sách không bao gồm vay và tổng chi ngân sách không bao gồm trả nợ gốc sau khi kết thúc năm ngân sách. Bản chất của kết dư là lượng vốn thặng dư thực tế sau khi đã hoàn thành các nghĩa vụ chi trong năm, xuất phát chủ yếu từ hai nguồn: Tăng thu do điều hành kinh tế vượt dự toán và tiết kiệm chi và/hoặc dự toán chi không triển khai được, không được phép chuyển nguồn. Do đó, kết dư NSĐP phải tương ứng với lượng tiền mặt thực tồn trong ngân quỹ nhà nước tại địa phương.

 Kết dư ngân sách năm nay sẽ được chuyển thành nguồn thu ngân sách trong năm sau và được sử dụng theo quy định của Luật NSNN do chính quyền địa phương quyết định… Do vậy, khoản kết dư ngân sách nếu xác định không đúng sẽ ảnh hưởng đến việc quản lý, điều hành NSĐP trong năm tiếp theo.

Trả nợ gốc bằng nguồn ngân sách địa phương

Trả nợ gốc là nhiệm vụ của ngân sách cấp tỉnh để thanh toán nợ gốc các khoản vay của ngân sách cấp mình (không bao gồm các khoản vay về cho đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp vay lại). Luật NSNN quy định trả nợ gốc không tổng hợp vào chi cân đối ngân sách. 

Nguồn trả nợ gốc bằng nội lực của NSĐP bao gồm: Thu NSNN bố trí trong dự toán (bội thu); tăng thu so với dự toán, dự toán chi còn lại của cấp ngân sách và kết dư NSĐP năm trước được HĐND tỉnh quyết định. Khi phát sinh việc trả nợ gốc bằng một, hai hoặc cả ba trong ba nguồn này thì đồng nghĩa với việc một phần trong thu cân đối NSĐP được dùng để trả nợ do vậy lượng tiền này không còn trong ngân quỹ nhà nước của địa phương khi niên độ ngân sách kết thúc.

Bội chi ngân sách địa phương

Theo khoản 1 Điều 4 và khoản 5 Điều 7 Luật NSNN, bội chi NSĐP cấp tỉnh là chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh không bao gồm trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh không bao gồm vay. Bội chi chỉ phát sinh ở cấp tỉnh và chỉ được sử dụng cho mục đích ĐTPT thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được HĐND cấp tỉnh quyết định. 

Thực tiễn quyết toán ngân sách tại các địa phương đang tồn tại mâu thuẫn sâu sắc giữa hai trường phái tính toán kết dư NSĐP khi có phát sinh đồng thời nghiệp vụ vay ĐTPT và trả nợ gốc bằng nguồn nội lực. Ảnh minh họa

Luận giải phương pháp xác định kết dư ngân sách địa phương

Mục tiêu xuyên suốt của việc loại trừ khoản thu vay và khoản trả nợ gốc ra khỏi tổng thu, tổng chi cân đối ngân sách (từ Luật NSNN 2015) là nhằm loại bỏ hiện tượng phản ánh trùng lặp, tăng quy mô ngân sách một cách cơ học. Trước đây, khi đi vay được tính vào thu, khi đem chi ĐTPT tính vào chi, đến khi trả nợ gốc lại tính vào chi cân đối một lần nữa khiến cho cùng một khoản vay và chi ĐTPT bị hạch toán hai lần, làm thổi phòng dòng tiền ngân sách. 

Khi cụ thể hóa Luật, khoản 1 Điều 33 NĐ 73 đưa ra cụm từ hướng dẫn: Kết dư được xác định bằng tổng số thu lớn hơn tổng số chi NSNN “không bao gồm các khoản vay và các khoản chi từ nguồn vay, bao gồm cả chi trả nợ gốc”. Phân tích ngữ nghĩa pháp lý cho thấy cụm từ "bao gồm cả chi trả nợ gốc" bắt buộc phải được hiểu là nằm trong mệnh đề phụ thuộc của từ "không bao gồm" đứng trước đó. Nghĩa là, khoản chi trả nợ gốc tuyệt đối không được tính vào tổng chi cân đối khi xác định số kết dư. Điều này bảo đảm sự nhất quán với khoản 15 Điều 4 của Luật NSNN. 

Việc Nghị định yêu cầu không bao gồm "các khoản chi từ nguồn vay" là vì khoản chi ĐTPT từ nguồn vay này đã được đối ứng và bù đắp bằng nguồn vay ngoài cân đối (phản ánh dòng bội chi).  

Thực tiễn quyết toán ngân sách tại các địa phương đang tồn tại mâu thuẫn sâu sắc giữa hai trường phái tính toán kết dư NSĐP khi có phát sinh đồng thời nghiệp vụ vay ĐTPT và trả nợ gốc bằng nguồn nội lực: 

Trường hợp 1: Phương pháp tính cơ học theo bề nổi văn bản

{Kết dư} = {Tổng thu cân đối NSĐP} - {Tổng chi cân đối NSĐP}

Cách tính này đúng khi và chỉ khi trong năm NSĐP không phát sinh nghiệp vụ vay để chi ĐTPT và đặc biệt không trích nguồn NSĐP để trả nợ gốc. 

Khi địa phương có trích các nguồn của NSĐP để trả nợ gốc, nếu áp dụng công thức này, số kết dư tính ra sẽ tăng lên một lượng bằng đúng số tiền đã trả nợ gốc. Đây là một "kết dư ảo". Về mặt kế toán, tiền đã xuất quỹ để trả cho chủ nợ nhưng trên báo cáo kết dư vẫn ghi nhận khoản tiền này, dẫn đến sai lệch nghiêm trọng với lượng tiền thực tồn tại Kho bạc Nhà nước. 

Trường hợp 2: Phương pháp hiệu chỉnh theo bản chất vận động dòng tiền

{Kết dư} = ({Tổng thu cân đối NSĐP} - {Tổng chi cân đối NSĐP}) + {Chi ĐTPT trong năm bằng nguồn vay} - {Trả nợ gốc bằng các nguồn của NSĐP}

Trong trường hợp này, việc phải cộng lại khoản "Chi ĐTPT từ nguồn vay"  vì khoản chi này đã được tổng hợp trong tổng chi cân đối NSĐP và đã bị trừ đi khi lấy Thu cân đối trừ Chi cân đối. Tuy nhiên, khoản chi này được bù đắp bằng nguồn vay riêng biệt (nguồn bội chi), nguồn thu cân đối của NSĐP không phải bỏ ra để gánh chi phí này nên bắt buộc phải cộng ngược trở lại.

Thứ hai, việc phải trừ đi khoản "Trả nợ gốc bằng nguồn NSĐP" vì đây là lượng tiền mặt thực tế trích ra từ nguồn thu cân đối của địa phương để thanh toán cho nghĩa vụ nợ. Tiền đã rời khỏi tài khoản ngân quỹ công. Nếu không thực hiện phép trừ này, kết quả tính toán sẽ bị sai lệch so với số thực tế. 

Từ các lý luận trên có thể khẳng định: Phương pháp tại Trường hợp 2 là cách tính hoàn toàn chính xác, khoa học và phản ánh đúng lượng tiền thực tồn trong ngân quỹ nhà nước ở địa phương. 

Tóm lại, việc chuẩn hóa quy trình xác định và kiểm toán kết dư này không chỉ nâng cao tính minh bạch, chính xác của bức tranh tài chính địa phương mà còn là tiền đề vững chắc cho việc lập dự toán ngân sách hiệu quả trong các niên độ tiếp theo.

22/10/2026 7
Kết quả kiểm toán ngân sách địa phương và báo cáo quyết toán ngân sách địa phương năm 2025 của tỉnh Quảng Ninh (nay là thành phố Quảng Ninh) đã chỉ ra nhiều hạn chế trong công tác lập, phân bổ dự toán, quản lý chi ngân sách, theo dõi nguồn cải cách tiền lương và thực hiện các dự án đầu tư công. Kiểm toán nhà nước (KTNN) kiến nghị xử lý tài chính hơn 54,8 tỷ đồng, đồng thời kiến nghị chấn chỉnh những tồn tại trong quản lý, sử dụng tài chính công.
Xem chi tiết
21/10/2026 10
Thực hiện chỉ đạo của Tổng Kiểm toán nhà nước, Kiểm toán nhà nước (KTNN) chuyên ngành V đang “chạy đua” gấp rút hoàn thành các nhiệm vụ kiểm toán, khi thời gian còn lại của năm 2026 không còn nhiều, với khối lượng công việc rất lớn.
Xem chi tiết
21/10/2026 6
Chiều 20/10, Vụ Hợp tác quốc tế, Kiểm toán nhà nước (KTNN) tổ chức tập huấn công tác lễ tân, hậu cần, khánh tiết cho 22 liên lạc viên và thành viên Tổ giúp việc phục vụ Hội thảo quốc tế “Cơ quan Kiểm toán tối cao trong bối cảnh mới: Tầm nhìn, Thể chế và Đổi mới”. Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế Nguyễn Việt Hùng chủ trì buổi tập huấn.
Xem chi tiết
20/10/2026 21
Chiều ngày 17/10, tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, Kiểm toán độc lập.
Xem chi tiết
20/10/2026 14
Năm 2025, thu ngân sách nhà nước (NSNN) vượt 36,8% dự toán, bội chi ở mức 3,1% GDP, nợ công bằng 33,35% GDP. Tuy nhiên, kết quả kiểm toán quyết toán NSNN năm 2025 cho thấy còn những hạn chế trong quản lý thu, điều hành chi và giải ngân đầu tư công vẫn chưa được khắc phục triệt để.
Xem chi tiết
19/10/2026 13
Góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đo lường (sửa đổi), Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa đề nghị bổ sung quy định Kiểm toán nhà nước (KTNN) và cơ quan nhà nước có thẩm quyền được kết nối, khai thác, sử dụng dữ liệu đo lường miễn phí để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật…
Xem chi tiết
19/10/2026 12
Bộ Tài chính công bố 2 chuẩn mực kế toán công Việt Nam đợt 4, quy định về kế toán các khoản đầu tư vào đơn vị liên kết, liên doanh và thỏa thuận chung, đồng thời tiếp tục hoàn thiện chế độ kế toán trong lĩnh vực công.
Xem chi tiết
16/10/2026 22
9 tháng năm 2026, cùng với công tác sắp xếp, tinh gọn bộ máy tiếp tục được quyết liệt triển khai, KTNN đã đoàn kết, nỗ lực, chủ động trong việc thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ chính trị. Bước vào quý IV - chặng nước rút với khối lượng công việc lớn, Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa yêu cầu các đơn vị khẩn trương hoàn thành toàn diện kế hoạch công tác năm 2026, bảo đảm tiến độ, chất lượng, trọng tâm là Kế hoạch kiểm toán; đồng thời chủ động chuẩn bị cho năm 2027, lấy chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ làm đột phá nâng cao hiệu quả kiểm toán.
Xem chi tiết
Trụ sở chính
VP. Đại diện
CN. Miền Bắc
CN. TP Hồ Chí Minh
Key thời gian làm việc
Bản quyền © 2026 KIỂM TOÁN CPA VIETNAM. Bảo lưu mọi quyền. Thiết kế website bởi Tất Thành
Thống kê truy cập
Tổng truy cập: 487958 Đang truy cập: 325
Chính sách website