Công ty TNHH kiểm toán CPA VIETNAM
Chất lượng dịch vụ - Sự hiểu biết - Tầm nhìn toàn cầu

Đổi mới phương thức quản lý dịch vụ kế toán trong bối cảnh bãi bỏ điều kiện kinh doanh

17/08/2026 - 09:24      11 lượt xem
Chủ trương cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính và đổi mới phương thức quản lý nhà nước là yêu cầu cần thiết, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị và các Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP, 66.18/2026/NQ-CP của Chính phủ.
Nội dung chính[ẩn][hiện]

Đối với dịch vụ kế toán, việc bãi bỏ giấy phép và các thủ tục tiền kiểm có thể góp phần giảm chi phí tuân thủ, hạ thấp rào cản gia nhập thị trường, mở rộng nguồn cung và thúc đẩy cạnh tranh. Sự thay đổi này đồng thời tạo điều kiện phát triển các mô hình cung cấp dịch vụ linh hoạt, ứng dụng công nghệ và nền tảng số, qua đó nâng cao hiệu quả và giảm chi phí cung ứng. Doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ, hợp tác xã và hộ kinh doanh - những đối tượng thường có nguồn lực kế toán hạn chế - sẽ có thêm cơ hội tiếp cận dịch vụ với phạm vi, phương thức và chi phí phù hợp.

Tuy nhiên, dịch vụ kế toán không chỉ là quan hệ hợp đồng giữa bên thuê và bên cung cấp. Kết quả dịch vụ trực tiếp tham gia vào quá trình tạo lập chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính, hồ sơ thuế và thông tin phục vụ quản trị. Chất lượng của những thông tin này ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, khả năng tiếp cận tín dụng, quyết định đầu tư và quyền lợi của chủ nợ, người lao động cùng các bên có liên quan. Trong khi đó, người sử dụng thường khó đánh giá trước năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp, quy trình kiểm soát chất lượng và mức độ an toàn của hồ sơ, dữ liệu; nhiều sai sót chỉ được phát hiện khi hậu quả đã phát sinh.

Vì vậy, vấn đề quan trọng sau khi bãi bỏ điều kiện kinh doanh là phải xác lập được một phương thức quản lý thay thế có khả năng vận hành trong thực tế thể hiện trên các phương diện: trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ được xác định rõ; người sử dụng có đủ thông tin để lựa chọn; cơ quan quản lý có dữ liệu và công cụ để hậu kiểm theo rủi ro; tổ chức nghề nghiệp có vị trí, nhiệm vụ phù hợp để hỗ trợ duy trì năng lực, đạo đức và chất lượng dịch vụ. Luận điểm xuyên suốt của tham luận này là “cải cách chỉ thực sự đạt mục tiêu khi việc mở rộng quyền gia nhập thị trường được đặt trong một cách tiếp cận mới, dựa trên trách nhiệm nghề nghiệp, minh bạch thông tin và hậu kiểm thực chất”.

I. Thay đổi căn bản của phương thức quản lý dịch vụ kế toán

1. Cơ chế kiểm soát điều kiện trước khi gia nhập thị trường

Pháp luật hiện hành quản lý dịch vụ kế toán chủ yếu theo cơ chế tiền kiểm. Cá nhân muốn hành nghề phải có chứng chỉ kế toán viên hoặc kiểm toán viên, đáp ứng yêu cầu về kinh nghiệm, đăng ký hành nghề và cập nhật kiến thức hằng năm. Doanh nghiệp, hộ kinh doanh phải đáp ứng điều kiện về tổ chức, nhân sự và được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Trong quá trình hoạt động, các chủ thể này còn phải thực hiện chế độ báo cáo, chịu sự quản lý hành nghề và kiểm soát chất lượng; nếu không duy trì đủ điều kiện hoặc có vi phạm có thể bị đình chỉ, thu hồi đăng ký hành nghề hoặc giấy chứng nhận.

Theo Bộ Tài chính, hiện có khoảng 540 cá nhân hành nghề tại khoảng 190 đơn vị dịch vụ kế toán và khoảng 118 doanh nghiệp kiểm toán có cung cấp dịch vụ kế toán, trong khi nền kinh tế có gần 1,1 triệu doanh nghiệp, khoảng 98% là doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ, chưa kể hộ kinh doanh và các đơn vị khác có nhu cầu thuê dịch vụ. Đây là một trong những cơ sở thực tiễn của phương án mở rộng thị trường.

Dự thảo Luật sửa đổi Luật Kế toán bãi bỏ về cơ bản hệ thống giấy phép và thủ tục, gồm thi và cấp chứng chỉ kế toán viên, đăng ký hành nghề, điều kiện kinh doanh, Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh cùng các quy định chuyên biệt về cập nhật kiến thức, báo cáo, kiểm soát chất lượng, đình chỉ và thu hồi. Cơ quan nhà nước vì vậy không còn xác nhận trước tư cách hành nghề và điều kiện hoạt động của chủ thể cung cấp dịch vụ như hiện nay.

2. Mở rộng quyền cung cấp dịch vụ và chuyển trọng tâm sang hậu kiểm

Dự thảo Luật gần đây đã bổ sung khái niệm “cá nhân cung cấp dịch vụ kế toán” và “tổ chức cung cấp dịch vụ kế toán”. Cá nhân được cung cấp dịch vụ dưới hình thức cá nhân hoặc thông qua tổ chức; tổ chức cung cấp dịch vụ bao gồm doanh nghiệp, hộ kinh doanh và chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam. Quan hệ dịch vụ được xác lập chủ yếu trên cơ sở hợp đồng, quyền lựa chọn của khách hàng và trách nhiệm pháp lý của các bên.

Trên thực tế, dự thảo không bãi bỏ hoàn toàn yêu cầu về năng lực. Điều 68 vẫn quy định cá nhân, tổ chức không được cung cấp dịch vụ nếu người có liên quan không đủ năng lực chuyên môn hoặc không đáp ứng tiêu chuẩn của người làm kế toán. Điểm thay đổi là các yêu cầu này không còn được cơ quan nhà nước kiểm tra, xác nhận trước khi chủ thể gia nhập thị trường. Điều 67 tiếp tục quy định bên cung cấp phải thực hiện công việc theo hợp đồng, tuân thủ pháp luật và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, chịu trách nhiệm về nội dung dịch vụ và bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Đồng thời, Điều 71 vẫn duy trì kiểm tra kế toán và giám sát việc tuân thủ chuẩn mực, chế độ kế toán. Như vậy, phương thức quản lý được chuyển từ kiểm soát trước tư cách và điều kiện hoạt động sang đề cao trách nhiệm trong quá trình cung cấp dịch vụ, kiểm tra và xử lý vi phạm sau khi hoạt động phát sinh.

3. Quan điểm về phương án cải cách

Thống nhất với định hướng cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, mở rộng nguồn cung và tăng quyền lựa chọn của người sử dụng dịch vụ; đồng thời chuyển trọng tâm quản lý từ kiểm soát điều kiện trước khi gia nhập thị trường sang đề cao trách nhiệm trong quá trình cung cấp dịch vụ và hậu kiểm. Tuy nhiên, việc bãi bỏ các công cụ quản lý hiện hành cần được thực hiện đồng bộ với việc xác lập phương thức quản lý phù hợp, bảo đảm trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ được xác định rõ, thông tin và hồ sơ có khả năng truy xuất, người sử dụng có căn cứ lựa chọn, cơ quan quản lý có dữ liệu và công cụ hậu kiểm, đồng thời phát huy vai trò phù hợp của tổ chức nghề nghiệp. Việc hoàn thiện các nội dung này không nhằm hình thành điều kiện kinh doanh hoặc thủ tục cấp phép mới, mà để tránh khoảng trống pháp lý, hạn chế rủi ro phát sinh và bảo đảm phương án cải cách có thể vận hành hiệu quả trong thực tế.

Trên tinh thần đó, cần làm rõ trách nhiệm nghề nghiệp, minh bạch thông tin, quản lý hồ sơ và dữ liệu, hậu kiểm theo rủi ro và nhiệm vụ phù hợp của tổ chức nghề nghiệp trong khuôn khổ phương án cải cách đã được dự thảo Luật xác lập.

II. Một số vấn đề thực tiễn đặt ra khi thay đổi phương thức quản lý dịch vụ kế toán

Việc bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán nhằm giảm rào cản gia nhập thị trường và mở rộng quyền cung cấp, lựa chọn dịch vụ. Tuy nhiên, thay đổi này không nên được thực hiện theo hướng chỉ cắt bỏ cơ học các điều kiện, giấy chứng nhận và thủ tục hiện hành mà không thiết kế phương thức quản lý thay thế phù hợp. Cơ chế tiền kiểm chỉ xác nhận tư cách và một số điều kiện tối thiểu của chủ thể tại thời điểm gia nhập thị trường, không bảo đảm chất lượng của từng hợp đồng. Khi cơ chế này được bãi bỏ, trọng tâm quản lý phải chuyển sang minh bạch thông tin, trách nhiệm trong quá trình cung cấp dịch vụ, khả năng truy xuất công việc và hậu kiểm theo rủi ro. Một số vấn đề dưới đây vốn đã tồn tại trong thực tiễn, nhưng có thể khó nhận diện và xử lý hơn nếu các công cụ quản lý mới không được thiết lập đồng bộ.

1. Bất cân xứng thông tin trong việc lựa chọn nhà cung cấp

Người sử dụng dịch vụ kế toán gồm doanh nghiệp, tổ chức, hợp tác xã, hộ kinh doanh và các đơn vị kế toán khác. Những đơn vị có nguồn lực chuyên môn nội bộ hạn chế thường khó đánh giá được thực chất năng lực, kinh nghiệm, quy trình soát xét, đạo đức nghề nghiệp, khả năng bảo mật và chất lượng hồ sơ của nhà cung cấp.

Chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận chỉ phản ánh việc đáp ứng một số yêu cầu tại thời điểm được cấp, không thay thế việc đánh giá chất lượng thường xuyên. Tuy nhiên, khi không còn cơ chế xác nhận ban đầu, người sử dụng phải tự kiểm chứng thông tin nhiều hơn. Nếu thiếu nguồn thông tin công khai và đáng tin cậy, việc lựa chọn dễ dựa chủ yếu vào giá, dẫn đến cạnh tranh bằng cách cắt giảm quy trình và thời gian soát xét.

Vì vậy, phương thức quản lý mới cần có cơ chế minh bạch, kiểm chứng thông tin để hỗ trợ lựa chọn và thúc đẩy cạnh tranh bằng chất lượng, uy tín nghề nghiệp.

2. Phạm vi công việc và trách nhiệm trong quá trình cung cấp dịch vụ

Một hợp đồng dịch vụ kế toán có thể có nhiều chủ thể tham gia: đơn vị thuê dịch vụ, bên giao kết hợp đồng, người trực tiếp thực hiện, người soát xét và người chịu trách nhiệm chuyên môn. Vướng mắc thường phát sinh khi hợp đồng không xác định rõ phạm vi công việc, hồ sơ phải cung cấp, sản phẩm bàn giao, thời hạn và trách nhiệm kiểm tra.

Trong phương thức quản lý mới, trách nhiệm phải được xác định theo công việc thực tế và dấu vết trong hồ sơ, không chỉ dựa vào tư cách của bên ký hợp đồng. Hồ sơ cần thể hiện người thực hiện, người soát xét, thông tin do đơn vị thuê cung cấp, nội dung đã xác nhận và các cảnh báo khi phát hiện chứng từ hoặc yêu cầu không phù hợp. Việc đơn vị thuê ký báo cáo không loại trừ trách nhiệm của bên cung cấp đối với phần công việc được thuê; ngược lại, việc thuê dịch vụ cũng không thay thế trách nhiệm của đơn vị kế toán. Khi có sai sót, ngoài bồi thường còn phải kịp thời sửa chữa, hoàn thiện hồ sơ và phòng ngừa vi phạm tái diễn.

3. Quản lý hồ sơ và dữ liệu kế toán trong môi trường số

Dịch vụ kế toán ngày càng được thực hiện trên phần mềm, nền tảng điện toán đám mây và các hệ thống kết nối với hóa đơn điện tử, ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm. Bên cung cấp có thể được giao tài khoản, chữ ký số và quyền truy cập vào dữ liệu quan trọng. Việc dùng tài khoản chung, phân quyền không rõ hoặc không lưu dấu vết sẽ gây khó khăn cho việc xác định trách nhiệm; công cụ tự động và trí tuệ nhân tạo cũng có thể làm sai sót lặp lại nếu kết quả không được kiểm tra.

Do đó, hồ sơ dịch vụ phải phản ánh được quá trình tiếp nhận, xử lý, soát xét và bàn giao; dữ liệu phải được phân quyền, lưu vết, sao lưu, bảo mật và có khả năng phục hồi. Khi chấm dứt hợp đồng hoặc thay đổi nhà cung cấp, cần bàn giao đầy đủ chứng từ, dữ liệu, lịch sử xử lý, đồng thời thu hồi quyền truy cập. Đây phải là một nội dung quan trọng của phương thức quản lý dựa trên trách nhiệm và hậu kiểm.

4. Tác động vượt ra ngoài quan hệ hợp đồng và nguy cơ sai sót lặp lại

Số liệu kế toán và báo cáo tài chính được sử dụng để xác định nghĩa vụ thuế, cấp tín dụng, quyết định đầu tư và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Sai sót dịch vụ vì vậy có thể ảnh hưởng đến cả những chủ thể không trực tiếp tham gia hợp đồng. Khi một nhà cung cấp phục vụ nhiều đơn vị, cùng một cách xử lý không phù hợp, quy trình thiếu soát xét hoặc khiếm khuyết của phần mềm có thể được áp dụng lặp lại và tạo ra rủi ro có tính hệ thống.

Phương thức quản lý mới cần có khả năng tổng hợp thông tin về chủ thể cung cấp, phạm vi dịch vụ, sai sót đã phát hiện và kết quả khắc phục để thực hiện hậu kiểm theo mức độ rủi ro, thay vì kiểm tra dàn đều. Tổ chức nghề nghiệp có thể tham gia hướng dẫn thực hành, cập nhật kiến thức, hỗ trợ kiểm soát chất lượng và cung cấp thông tin phục vụ quản lý nhà nước.

Đây là cơ sở để hoàn thiện quy định về trách nhiệm tại Điều 67, năng lực tại Điều 68, nhiệm vụ của tổ chức nghề nghiệp tại Điều 70 và cơ chế kiểm tra tại Điều 71. Mục tiêu không phải thay điều kiện kinh doanh cũ bằng một hình thức cấp phép mới, mà xây dựng phương thức quản lý phù hợp hơn: giảm tiền kiểm, đồng thời tăng minh bạch, trách nhiệm giải trình, khả năng truy xuất và hiệu quả hậu kiểm.

III. Một số kinh nghiệm thực tế

1. Kinh nghiệm từ quản lý đại lý làm thủ tục thuế

Mặc dù dịch vụ làm thủ tục thuế không còn là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, nhưng khoản 5 Điều 40 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 vẫn xác định chủ thể, phạm vi dịch vụ và trách nhiệm đối với nội dung đã cung cấp. Điều 64 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP quy định tiêu chuẩn kinh doanh đối với tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ và tiêu chuẩn đối với người tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ. Tổ chức, cá nhân đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn trên, được cung cấp dịch vụ làm thủ tục về thuế và không phải đăng ký với cơ quan thuế. Thông tư số 109/2026/TT-BTC tiếp tục quy định việc đánh giá năng lực nghiệp vụ chuyên môn, cập nhật kiến thức hàng năm, công khai thông tin và kiểm tra trên cơ sở quản lý rủi ro.

Dịch vụ kế toán và dịch vụ làm thủ tục về thuế có phạm vi, đối tượng và tính chất khác nhau nên có thể không áp dụng nguyên mẫu cùng một cơ chế. Tuy nhiên, điều này cho thấy cần phân biệt việc bãi bỏ điều kiện gia nhập thị trường với các nghĩa vụ phải tuân thủ trong quá trình cung cấp dịch vụ. Theo đó, việc đổi mới quản lý dịch vụ kế toán không nên chỉ dừng ở cắt bỏ điều kiện và thủ tục hiện hành, mà cần đồng thời hoàn thiện quy định về trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp, bảo mật thông tin, lưu trữ hồ sơ và hậu kiểm theo rủi ro.

2. Kinh nghiệm từ quản lý đại lý làm thủ tục hải quan

Quản lý đại lý làm thủ tục hải quan cho thấy việc bãi bỏ ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện không đồng nghĩa với chấm dứt quản lý chuyên môn. Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 không còn xếp kinh doanh dịch vụ làm thủ tục hải quan vào Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, Thông tư số 83/2026/TT-BTC vẫn quy định tiêu chuẩn đối với đại lý, nhân viên đại lý, chứng chỉ nghiệp vụ, cập nhật kiến thức và cơ chế quản lý hoạt động; Cục Hải quan được giao kiểm tra việc đáp ứng tiêu chuẩn, cấp mã số nhân viên, cấp quyền hoạt động trên hệ thống và xử lý vi phạm.

Kinh nghiệm này cho thấy cần phân biệt giữa bãi bỏ điều kiện đầu tư kinh doanh với duy trì tiêu chuẩn và cơ chế quản lý nghề nghiệp. Đối với dịch vụ kế toán, nếu Luật mới không tiếp tục giao Bộ Tài chính thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nghề nghiệp như hiện nay thì cần xác định rõ chủ thể thực hiện, tránh tạo khoảng trống quản lý. Theo đó, có thể nghiên cứu giao cho tổ chức nghề nghiệp về kế toán thực hiện các nhiệm vụ phù hợp như chuẩn nghề nghiệp, cập nhật kiến thức, kiểm soát chất lượng, giám sát đạo đức nghề nghiệp và hỗ trợ hậu kiểm, dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước.

3. Kinh nghiệm quốc tế về vai trò của tổ chức nghề nghiệp

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có một mô hình duy nhất về sự tham gia của tổ chức nghề nghiệp trong quản lý và phát triển nghề nghiệp kế toán. Phạm vi tham gia phụ thuộc vào hệ thống pháp luật, cơ cấu quản lý, trình độ phát triển của thị trường dịch vụ, mức độ tự quản nghề nghiệp và năng lực của tổ chức nghề nghiệp tại mỗi quốc gia. Nhìn chung, tổ chức nghề nghiệp có thể tham gia xây dựng và phổ biến chuẩn mực, tổ chức đào tạo và phát triển năng lực, xây dựng chuẩn nghề nghiệp và quy tắc đạo đức, đánh giá năng lực, hỗ trợ nâng cao chất lượng, công khai thông tin, tiếp nhận phản ánh và tổng hợp vướng mắc từ thực tiễn. Bên cạnh những hoạt động được chủ động thực hiện trong phạm vi chức năng, tổ chức nghề nghiệp còn có thể phối hợp hoặc thực hiện một số nhiệm vụ chuyên môn do cơ quan nhà nước giao, đặt hàng hoặc ủy quyền.

Mức độ tham gia của tổ chức nghề nghiệp được xác định phù hợp với tính chất của từng nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia. Cơ quan nhà nước tiếp tục giữ thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm; tổ chức nghề nghiệp phát huy kiến thức chuyên môn, mạng lưới hội viên và khả năng hỗ trợ phát triển nghề nghiệp. Khi tổ chức nghề nghiệp được giao thực hiện nhiệm vụ, pháp luật thường xác định rõ phạm vi công việc, yêu cầu về năng lực, kết quả đầu ra, trách nhiệm công khai, giải trình và cơ chế giám sát.

Bài học kinh nghiệm quốc tế không nằm ở việc áp dụng nguyên trạng một mô hình có sẵn, mà ở nguyên tắc phân công nhiệm vụ phù hợp, phát huy nguồn lực chuyên môn của tổ chức nghề nghiệp và bảo đảm trách nhiệm giám sát của Nhà nước. Đây là cơ sở để Việt Nam lựa chọn cách thức tham gia của tổ chức nghề nghiệp phù hợp với bối cảnh cải cách và yêu cầu bảo vệ lợi ích công chúng.

4. Một số hàm ý đối với Việt Nam

Từ kinh nghiệm nêu trên và yêu cầu đổi mới phương thức quản lý dịch vụ kế toán, có thể rút ra một số gợi ý đối với Việt Nam như sau:

Thứ nhất, việc cắt giảm điều kiện kinh doanh và thủ tục tiền kiểm cần được thực hiện đồng bộ với việc hoàn thiện phương thức quản lý dựa trên trách nhiệm nghề nghiệp, minh bạch thông tin và hậu kiểm theo rủi ro. Cải cách không chỉ dừng ở việc bãi bỏ giấy phép và thủ tục hiện hành mà cần bảo đảm trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ được xác định rõ, hồ sơ và dữ liệu có khả năng truy xuất, người sử dụng có thông tin để lựa chọn và cơ quan quản lý có công cụ phục vụ hậu kiểm.

Thứ hai, Luật cần xác định rõ các nhóm nhiệm vụ cơ bản của tổ chức nghề nghiệp về kế toán, thay vì chỉ quy định khái quát và để toàn bộ phạm vi nhiệm vụ cho văn bản hướng dẫn. Các nhóm nhiệm vụ có thể bao gồm tham gia xây dựng và phổ biến chuẩn mực; đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức; xây dựng chương trình chuẩn nghề nghiệp, quy tắc đạo đức và tiêu chí chất lượng; đánh giá, chứng nhận năng lực nghề nghiệp và công khai thông tin; hỗ trợ rà soát chất lượng; tiếp nhận phản ánh, tổng hợp vướng mắc và phản biện chính sách. Việc quy định trong Luật sẽ tạo cơ sở pháp lý ổn định để tổ chức nghề nghiệp phát huy vai trò trong phương thức quản lý mới.

Thứ ba, cần phân biệt giữa nhiệm vụ tổ chức nghề nghiệp được chủ động thực hiện trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ chuyên môn do cơ quan nhà nước giao, đặt hàng hoặc ủy quyền. Đối với nhiệm vụ được giao, đặt hàng hoặc ủy quyền, cần căn cứ vào tính chất công việc, phạm vi hoạt động, tính đại diện, năng lực chuyên môn và khả năng tổ chức thực hiện của tổ chức nghề nghiệp; đồng thời xác định rõ kết quả đầu ra, nguồn lực, trách nhiệm báo cáo và cơ chế phối hợp.

Thứ tư, các chương trình chuẩn nghề nghiệp, hoạt động đánh giá, chứng nhận cá nhân, công nhận tổ chức và hỗ trợ rà soát chất lượng do tổ chức nghề nghiệp thực hiện cần được xác định rõ theo cơ chế tự nguyện. Kết quả đánh giá, chứng nhận hoặc công nhận không phải là giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc điều kiện kinh doanh; không làm phát sinh nghĩa vụ bắt buộc gia nhập tổ chức nghề nghiệp, không tạo độc quyền và không hạn chế quyền cung cấp dịch vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Thứ năm, cơ quan nhà nước tiếp tục giữ thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Chính phủ quy định tiêu chí, phạm vi, phương thức thực hiện và trách nhiệm công khai, báo cáo, giải trình, bảo mật thông tin, kiểm soát xung đột lợi ích và giám sát đối với tổ chức nghề nghiệp khi thực hiện nhiệm vụ được giao, đặt hàng hoặc ủy quyền. Cách tiếp cận này vừa phát huy nguồn lực chuyên môn và tính tự quản nghề nghiệp, vừa không làm thay đổi trách nhiệm quản lý nhà nước và yêu cầu bảo vệ lợi ích công chúng.

IV. Những nội dung kiến nghị tiếp tục hoàn thiện trong Dự thảo luật

1. Làm rõ trách nhiệm đặc thù trong quá trình cung cấp dịch vụ tại Điều 67 Luật Kế toán

Dự thảo Luật gần đây đã bổ sung khái niệm “cá nhân cung cấp dịch vụ kế toán”, “tổ chức cung cấp dịch vụ kế toán” và xác định cá nhân có thể cung cấp dịch vụ trực tiếp hoặc thông qua tổ chức. Đây là bước hoàn thiện quan trọng, khắc phục sự thiếu thống nhất về chủ thể cung cấp dịch vụ trong các dự thảo trước. Điều 67 quy định bên cung cấp phải thực hiện công việc theo hợp đồng, tuân thủ pháp luật về kế toán và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, chịu trách nhiệm về nội dung dịch vụ và bồi thường thiệt hại. Cùng với yêu cầu về năng lực tại Điều 68, các quy định này đã tạo nền tảng pháp lý cho trách nhiệm của bên cung cấp trong phương thức quản lý mới.

Trách nhiệm hợp đồng, bồi thường thiệt hại và quan hệ giữa tổ chức với người được phân công thực hiện đã được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự, doanh nghiệp và lao động. Vì vậy, Luật Kế toán không cần quy định lại toàn bộ quan hệ trách nhiệm giữa các chủ thể. Tuy nhiên, nội dung cần được làm rõ là những trách nhiệm chuyên môn đặc thù gắn với công việc kế toán được thuê thực hiện.

Theo đó, có thể nghiên cứu bổ sung vào Điều 67 nguyên tắc: cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ phải xác định người trực tiếp thực hiện hoặc người chịu trách nhiệm đối với công việc; thực hiện soát xét phù hợp với quy mô, tính chất của dịch vụ; lập và lưu giữ hồ sơ đủ để xác định nội dung công việc, người thực hiện và kết quả đã cung cấp; bảo mật, bảo vệ và bàn giao thông tin, dữ liệu; giải trình, cung cấp hồ sơ phục vụ kiểm tra; thông báo và phối hợp khắc phục sai sót. Luật quy định các nguyên tắc cơ bản và giao Chính phủ hướng dẫn phù hợp với từng loại hình, phạm vi dịch vụ, tránh quy định quá chi tiết hoặc làm phát sinh thủ tục hành chính mới.

Đối với dịch vụ được thực hiện thông qua tổ chức, tổ chức giao kết hợp đồng phải chịu trách nhiệm trước bên thuê về việc thực hiện nghĩa vụ, kể cả khi phân công cá nhân thực hiện; cá nhân trực tiếp thực hiện chịu trách nhiệm đối với hành vi chuyên môn của mình theo quy định có liên quan. Đồng thời, việc thuê dịch vụ không thay thế trách nhiệm của đơn vị kế toán, người đại diện theo pháp luật, kế toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán trong việc tổ chức công tác kế toán và phê duyệt thông tin thuộc trách nhiệm của đơn vị.

Việc ký, xác nhận hoặc định danh người trực tiếp thực hiện trên chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và hồ sơ dịch vụ cũng cần được nghiên cứu ở mức độ phù hợp để tạo dấu vết trách nhiệm. Luật có thể quy định nguyên tắc, còn trường hợp và hình thức thực hiện cụ thể giao Chính phủ hướng dẫn, bảo đảm không làm phát sinh thêm một thủ tục đăng ký hành nghề dưới hình thức khác.

Những nội dung trên là trách nhiệm phải tuân thủ trong quá trình cung cấp dịch vụ, không phải điều kiện gia nhập thị trường và không làm khôi phục giấy phép hoặc cơ chế tiền kiểm đã được bãi bỏ.

2. Quy định rõ nhiệm vụ của tổ chức nghề nghiệp và cơ chế giao thực hiện tại Điều 70

Khoản 2 Điều 70 quy định tổ chức nghề nghiệp về kế toán được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho người làm kế toán, cá nhân cung cấp dịch vụ kế toán và thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến hoạt động kế toán do Chính phủ quy định. Quy định này đã tạo cơ sở để phát huy vai trò của tổ chức nghề nghiệp trong bối cảnh thay đổi phương thức quản lý dịch vụ kế toán.

Vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện không phải là xác lập lại địa vị pháp lý của tổ chức nghề nghiệp, vì địa vị của tổ chức hội đã được pháp luật có liên quan điều chỉnh, mà là xác định rõ hơn các nhóm nhiệm vụ chuyên môn trong lĩnh vực kế toán. Nếu các nội dung được để lại cho văn bản hướng dẫn, phạm vi tham gia của tổ chức nghề nghiệp có thể phụ thuộc nhiều vào cách thức quy định và tổ chức thực hiện sau này. Về kỹ thuật lập pháp, có thể nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều 70 theo hướng:

“2. Tổ chức nghề nghiệp về kế toán được thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

a) Tham gia xây dựng, phổ biến, hướng dẫn và hỗ trợ áp dụng chuẩn mực kế toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán;

b) Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức và hỗ trợ phát triển năng lực nghề nghiệp cho người làm kế toán và cá nhân cung cấp dịch vụ kế toán;

c) Xây dựng, phổ biến và tổ chức thực hiện các chương trình chuẩn nghề nghiệp, quy tắc đạo đức, hướng dẫn nghề nghiệp và tiêu chí chất lượng dịch vụ kế toán theo cơ chế tự nguyện;

d) Đánh giá, chứng nhận năng lực nghề nghiệp; công nhận tổ chức đáp ứng tiêu chí của chương trình nghề nghiệp; công khai thông tin và hỗ trợ rà soát, nâng cao chất lượng đối với hội viên, tổ chức, cá nhân tự nguyện tham gia;

đ) Tiếp nhận phản ánh, hỗ trợ xử lý các vấn đề phát sinh trong hoạt động nghề nghiệp; tổng hợp vướng mắc, tư vấn, phản biện và kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật về kế toán;

e) Tham gia thực hiện hoặc thực hiện một số nhiệm vụ chuyên môn về kế toán do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, đặt hàng hoặc ủy quyền theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí, phạm vi, phương thức thực hiện và trách nhiệm công khai, báo cáo, giải trình, bảo mật thông tin, kiểm soát xung đột lợi ích và giám sát đối với tổ chức nghề nghiệp khi thực hiện nhiệm vụ được giao, đặt hàng hoặc ủy quyền.”

Cách quy định này tạo cơ sở pháp lý trực tiếp để tổ chức nghề nghiệp tham gia phát triển năng lực và nâng cao chất lượng nghề nghiệp, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt để Chính phủ lựa chọn tổ chức có phạm vi hoạt động, tính đại diện, năng lực chuyên môn và khả năng thực hiện phù hợp với từng nhiệm vụ.

Trên cơ sở đó, Chính phủ có thể xem xét giao cho tổ chức nghề nghiệp về kế toán, có phạm vi hoạt động trên phạm vi toàn quốc trong lĩnh vực kế toán thực hiện một số nhiệm vụ phù hợp về phổ biến chuẩn mực, đào tạo, cập nhật kiến thức, hỗ trợ phát triển năng lực và nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán. Đối với từng nhiệm vụ, cần xác định cụ thể phạm vi công việc, kết quả đầu ra, nguồn lực, chế độ báo cáo và cơ chế giám sát.

Việc giao nhiệm vụ chuyên môn cho tổ chức nghề nghiệp không bao gồm thẩm quyền cấp phép, thanh tra, xử phạt hoặc áp dụng các biện pháp quản lý nhà nước. Hướng dẫn nghề nghiệp, tiêu chí chất lượng hoặc chương trình đánh giá do tổ chức nghề nghiệp thực hiện không phải là giấy phép, điều kiện kinh doanh hoặc yêu cầu bắt buộc gia nhập hội.

3. Làm rõ dữ liệu, công cụ và nguồn lực phục vụ hậu kiểm

Điều 71 của dự thảo tiếp tục quy định về kiểm tra kế toán và giám sát việc tuân thủ chuẩn mực, chế độ kế toán. Hồ sơ dự thảo Luật cũng xác định cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ kế toán thuộc đối tượng kiểm tra và cho rằng việc kiểm tra tại đơn vị kế toán có thể phát hiện các sai sót liên quan đến dịch vụ. Đây là những cơ sở pháp lý cần thiết cho hậu kiểm.

Tuy nhiên, kiểm tra tại đơn vị thuê dịch vụ chủ yếu phản ánh kết quả kế toán của một đơn vị, trong khi việc đánh giá phân công nhân sự, quy trình soát xét, quản lý hồ sơ, bảo mật dữ liệu và khắc phục sai sót của bên cung cấp có thể cần thông tin từ nhiều hợp đồng. Vì vậy, kiểm tra tại đơn vị thuê và kiểm tra bên cung cấp có phạm vi, mục tiêu khác nhau, không hoàn toàn thay thế cho nhau và cần được phối hợp phù hợp.

Hồ sơ dự thảo Luật đã đề cập yêu cầu kết nối với cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh và xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung. Trên cơ sở đó, cần tiếp tục làm rõ cách khai thác và kết nối dữ liệu hiện có, không nhất thiết hình thành thêm thủ tục xin phép, đăng ký hành nghề hoặc một hệ thống kê khai riêng về dịch vụ kế toán.

Cơ quan kiểm tra cần có khả năng nhận diện bên cung cấp và người trực tiếp thực hiện hoặc chịu trách nhiệm đối với công việc thông qua hợp đồng, hồ sơ dịch vụ, chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính hoặc hệ thống điện tử có liên quan. Trên cơ sở dữ liệu được kết nối, cần xây dựng tiêu chí lựa chọn đối tượng kiểm tra theo mức độ rủi ro, kết hợp thông tin từ đơn vị kế toán, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh, phản ánh đã tiếp nhận và kết quả kiểm tra trước đó.

Tổ chức nghề nghiệp có thể cung cấp thông tin tổng hợp về hoạt động đào tạo, cập nhật kiến thức, các vướng mắc và rủi ro nghề nghiệp được ghi nhận trong phạm vi nhiệm vụ được giao. Việc chia sẻ, khai thác và sử dụng thông tin phải có căn cứ pháp lý, đúng mục đích và bảo đảm an toàn dữ liệu.

Nhận định việc thi hành Luật không làm phát sinh thêm nguồn lực cũng cần được thuyết minh đầy đủ hơn. Việc giảm nguồn lực thực hiện tiền kiểm có thể bù đắp một phần cho hậu kiểm, nhưng kết nối dữ liệu, phân tích rủi ro và tổ chức kiểm tra vẫn cần hạ tầng công nghệ, nhân lực và sự phân công trách nhiệm rõ ràng.

4. Hoàn thiện quy định chuyển tiếp

Dự thảo đã có nội dung chuyển tiếp tại khoản 13 Điều 1, theo đó người có chứng chỉ kế toán viên hoặc chứng chỉ hành nghề kế toán do Bộ Tài chính cấp trước ngày 01/3/2027 tiếp tục được dự thi để lấy chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định. Tuy nhiên, nội dung chuyển tiếp hiện mới xử lý quyền dự thi của một nhóm đối tượng, chưa bao quát đầy đủ các giấy tờ, quan hệ và hoạt động đang tồn tại khi Luật mới có hiệu lực. Đồng thời, khoản 13 Điều 1 ghi sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3 Điều 73 nhưng nội dung dự thảo mới chỉ thể hiện khoản 2; do đó, cần rà soát để bảo đảm chính xác về kỹ thuật lập pháp.

Có thể quy định làm rõ giá trị pháp lý và mục đích sử dụng của chứng chỉ kế toán viên, chứng chỉ hành nghề kế toán, đăng ký hành nghề và Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán đã được cấp. Sau khi Luật mới có hiệu lực, các giấy tờ này không còn được sử dụng như điều kiện để cung cấp dịch vụ kế toán, nhưng có thể tiếp tục được sử dụng để chứng minh quá trình đào tạo, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và lịch sử hoạt động của tổ chức, cá nhân.

Dự thảo cũng cần quy định việc xử lý hồ sơ đang được cơ quan có thẩm quyền giải quyết, hợp đồng dịch vụ đang thực hiện và quyền, nghĩa vụ của các bên phát sinh trước ngày Luật có hiệu lực. Đối với hành vi, sai sót hoặc thiệt hại phát sinh trước ngày Luật có hiệu lực nhưng được phát hiện hoặc xử lý sau đó, cần xác định rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, không làm gián đoạn hoạt động dịch vụ và tránh cách hiểu, cách xử lý khác nhau.

Bên cạnh giá trị sử dụng trong nước, chứng chỉ do Bộ Tài chính đã cấp còn có thể được sử dụng để chứng minh năng lực khi người làm kế toán Việt Nam làm việc hoặc cung cấp dịch vụ ở nước ngoài. Vì vậy, cần đánh giá tác động của việc bãi bỏ cơ chế thi và cấp chứng chỉ kế toán viên đối với khả năng công nhận nghề nghiệp quốc tế; đồng thời xác định rõ giá trị tiếp tục sử dụng của các chứng chỉ đã cấp cho mục đích chứng minh năng lực, kinh nghiệm và tham gia các chương trình công nhận nghề nghiệp có liên quan.

5. Bổ sung đánh giá tác động và nguồn lực thực hiện

Đề nghị đánh giá đầy đủ hơn tác động của việc thay đổi phương thức quản lý đối với đơn vị thuê dịch vụ, các bên sử dụng thông tin kế toán và cơ quan kiểm tra, bên cạnh lợi ích từ việc cắt giảm thủ tục đối với chủ thể cung cấp. Nội dung đánh giá cần lưu ý khả năng lựa chọn nhà cung cấp, chất lượng thông tin kế toán, chi phí khắc phục sai sót, giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại.

Đồng thời, cần làm rõ nguồn lực phục vụ hậu kiểm, gồm nguồn dữ liệu, hạ tầng công nghệ, tiêu chí phân tích rủi ro, nhân sự kiểm tra và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan. Việc đánh giá cần tính đến cả nguồn lực tiết kiệm được từ bãi bỏ tiền kiểm và nguồn lực cần chuyển sang kết nối dữ liệu, phân tích, cảnh báo và kiểm tra theo rủi ro.

Đối với nhiệm vụ giao cho tổ chức nghề nghiệp, cần xác định rõ kết quả đầu ra, nguồn lực thực hiện, trách nhiệm báo cáo và cơ chế giám sát, bảo đảm nhiệm vụ được giao có khả năng triển khai trong thực tế. Việc huy động tổ chức nghề nghiệp tham gia thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn phù hợp cũng là một giải pháp tận dụng nguồn lực xã hội, nhưng không làm thay đổi trách nhiệm quản lý, kiểm tra và xử lý vi phạm của cơ quan nhà nước.

V. Kết Luận

Với chủ trương bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán và không duy trì giấy phép, đăng ký hành nghề hoặc cơ chế tiền kiểm cũ, dự thảo Luật đã bước đầu xác lập phương thức quản lý dựa trên trách nhiệm của bên cung cấp, kiểm tra kế toán và xử lý vi phạm trong quá trình hoạt động. Để phương thức này vận hành hiệu quả, cần phải tiếp tục hoàn thiện Điều 67 về trách nhiệm chuyên môn trong quá trình cung cấp dịch vụ; quy định rõ hơn tại Điều 70 các nhiệm vụ của tổ chức nghề nghiệp và cơ sở để Chính phủ giao tổ chức nghề nghiệp về kế toán thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn phù hợp; đồng thời làm rõ dữ liệu, nguồn lực phục vụ hậu kiểm và các quy định chuyển tiếp.

Những kiến nghị trên không làm phát sinh điều kiện kinh doanh mới và không chuyển giao thẩm quyền quản lý nhà nước cho tổ chức nghề nghiệp, mà nhằm phát huy nguồn lực nghề nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ và hỗ trợ hậu kiểm theo rủi ro. Cải cách chỉ thực sự thành công khi việc giảm rào cản gia nhập thị trường đồng thời nâng cao trách nhiệm của người cung cấp, khả năng lựa chọn của người sử dụng và hiệu quả giám sát của Nhà nước.

19/08/2026 5
Sáng 17/8, tại tỉnh Quảng Ngãi, Kiểm toán Nhà nước khu vực III phối hợp với UBND tỉnh tổ chức Hội nghị công bố Quyết định và triển khai kiểm toán tại tỉnh Quảng Ngãi.
Xem chi tiết
19/08/2026 5
Từ ngày 19/8 - 27/8, Phó Tổng Kiểm toán nhà nước Bùi Quốc Dũng dẫn đầu Đoàn công tác của Kiểm toán nhà nước (KTNN) Việt Nam sẽ thăm, làm việc với Cơ quan Kiểm toán tối cao Cộng hòa Séc và Cơ quan Tổng Kiểm toán và Kiểm soát Ireland.
Xem chi tiết
18/08/2026 7
Đảng ủy Kiểm toán nhà nước (KTNN) vừa có Công văn số 1241-CV/ĐU triển khai Cuộc thi tìm hiểu 80 năm Ngày truyền thống Lực lượng vũ trang (LLVT) Thủ đô, gửi các đảng ủy, chi ủy trực thuộc, Ban Thường vụ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh KTNN (Đoàn Thanh niên KTNN).
Xem chi tiết
18/08/2026 6
Chiều 17/8, tại Hà Nội, Kiểm toán nhà nước (KTNN) tổ chức Hội nghị tổng kết và trao giải phong trào "Bình dân học vụ số". Nhấn mạnh tại hội nghị, Tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Hữu Nghĩa khẳng định nguyên tắc cốt lõi: Trí tuệ nhân tạo (AI) chỉ là công cụ hỗ trợ, tuyệt đối không thay thế kiểm toán viên trong hoạt động kiểm toán.
Xem chi tiết
17/08/2026 10
Hoạt động khai thác dầu khí của Tổng công ty Perenco tại Cộng hòa Dân chủ Congo đang gây tác động nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng. Báo cáo kiểm toán sơ bộ cho thấy tình trạng đốt khí thải, rò rỉ và tràn dầu diễn ra tại nhiều khu vực gần nơi dân cư sinh sống. Trong khi đó, những thông tin quan trọng về chất lượng không khí, đất, nước và các biện pháp giám sát môi trường vẫn chưa được chính thức công khai.
Xem chi tiết
15/08/2026 10
Chiều 14/8, Đảng ủy Kiểm toán nhà nước (KTNN) tổ chức Hội nghị công bố Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổ chức bộ máy và trao Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước về công tác cán bộ.
Xem chi tiết
15/08/2026 10
Việc nghiên cứu và ứng dụng dữ liệu lớn vào hoạt động kiểm toán thu ngân sách nhà nước (NSNN) là một bước đi tất yếu, không chỉ giúp cải thiện chất lượng và hiệu quả kiểm toán mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, đáp ứng yêu cầu quản lý thuế trong bối cảnh chuyển đổi số.
Xem chi tiết
14/08/2026 10
Trong bối cảnh môi trường pháp lý quốc tế liên tục biến động, hoạt động kiểm toán nội bộ (KTNB) đã chuyển dịch từ một chức năng hỗ trợ sang vị trí trọng tâm của chiến lược vận hành doanh nghiệp. Sự kết hợp giữa các quy định mới về minh bạch thông tin, quản trị trí tuệ nhân tạo (AI), cùng hệ thống tiêu chuẩn khắt khe hơn đang đặt ra những thách thức chưa từng có đối với KTNB.
Xem chi tiết
Trụ sở chính
VP. Đại diện
CN. Miền Bắc
CN. TP Hồ Chí Minh
Key thời gian làm việc
Bản quyền © 2026 KIỂM TOÁN CPA VIETNAM. Bảo lưu mọi quyền. Thiết kế website bởi Tất Thành
Thống kê truy cập
Tổng truy cập: 487958 Đang truy cập: 325
Chính sách website