Nhu cầu vốn để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển đồng bộ thị trường vốn. Các chuyên gia cho rằng, khi tín dụng ngân hàng đã tiến gần giới hạn về khả năng cung ứng vốn trung và dài hạn, việc tái cấu trúc hệ thống tài chính theo hướng cân bằng hơn giữa ngân hàng và thị trường vốn sẽ trở thành điều kiện quan trọng để bảo đảm nguồn lực cho tăng trưởng bền vững.

Quang cảnh Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn”.
Nhu cầu vốn lớn đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ thị trường vốn
Phát biểu khai mạc Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức ngày 23/7, nhà báo Phạm Đức Sơn, Tổng Biên tập Tạp chí Nhà đầu tư cho biết, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP cao trong năm 2026 cũng như giai đoạn 2026-2030, nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ ở mức rất lớn.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, bình quân 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, gấp hơn hai lần so với giai đoạn 2021-2025.
Tuy nhiên, cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức khoảng 146%, thuộc nhóm cao đối với các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp. Điều này làm gia tăng áp lực cân đối nguồn vốn, trong khi tín dụng trung và dài hạn vẫn chủ yếu được tài trợ từ nguồn vốn huy động ngắn hạn, kéo theo rủi ro chênh lệch kỳ hạn và thanh khoản.
Trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Đến cuối tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán đạt trên 10,6 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025, còn dư nợ trái phiếu doanh nghiệp mới khoảng 1 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 10% GDP.
Theo nhà báo Phạm Đức Sơn, đây là những con số còn khiêm tốn so với nhiều nền kinh tế, cho thấy dư địa phát triển của thị trường vốn vẫn còn rất lớn.
Ông cũng cho biết, Nghị quyết 168/NQ-CP của Chính phủ đã yêu cầu tiếp tục phát triển thị trường chứng khoán, trình sửa đổi Luật Chứng khoán tại Kỳ họp Quốc hội tháng 10/2026, đồng thời nghiên cứu các sản phẩm tài chính mới để thu hút dòng vốn quốc tế vào Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp ngày 18/7, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục yêu cầu phát triển lành mạnh thị trường vốn, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước trở thành kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Áp lực cung ứng vốn ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng
Theo bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước, nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp, tín dụng đã tăng dần từ đầu năm. Đến ngày 13/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025, bổ sung khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế.

Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước.
Tuy nhiên, hoạt động tín dụng vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn. Theo bà Giang, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 ước khoảng 5,1 triệu tỷ đồng, trong tổng nhu cầu 38,5 triệu tỷ đồng của cả giai đoạn 2026-2030.
Mặc dù tốc độ huy động vốn đã được cải thiện, khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn ở mức khá lớn, gây áp lực lên hệ thống ngân hàng trong việc cân đối nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng.
Đồng thời, nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng khi tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 ở mức khoảng 145%, trong khi thị trường vốn chưa phát triển tương xứng.
Cũng theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm ngày càng tăng khiến các tổ chức tín dụng tiếp tục chịu áp lực về chênh lệch kỳ hạn và rủi ro thanh khoản do nguồn vốn cho vay chủ yếu vẫn là tiền gửi ngắn hạn.
Cùng quan điểm, chuyên gia kinh tế, TS. Cấn Văn Lực cho rằng, nguồn lực tài chính của nền kinh tế hiện chủ yếu đến từ tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, đầu tư công và vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, mỗi kênh đều đang đối mặt với những giới hạn nhất định.
Theo ông, kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy; thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư vẫn còn nhiều dư địa nhưng phát triển chưa tương xứng; trong khi đầu tư công vẫn còn khả năng mở rộng nhưng hiệu quả sử dụng vốn cần tiếp tục được nâng cao khi quy mô đầu tư ngày càng lớn.
Điều đó đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc hệ thống tài chính và các kênh dẫn vốn theo hướng cân bằng hơn, trong đó thị trường vốn cần phát triển nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, qua đó giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.
Hoàn thiện thể chế để phát triển cân bằng các kênh dẫn vốn
Theo bà Hà Thu Giang, năm 2026 là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, với mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát khoảng 4,5% và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Để góp phần thực hiện mục tiêu này, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế và các quy định về hoạt động tín dụng; điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế; tập trung vốn cho sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng và các dự án trọng điểm.
Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước sẽ thường xuyên theo dõi diễn biến tín dụng theo từng ngành, lĩnh vực; phối hợp với các bộ, ngành xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong hoạt động tín dụng.
Bà Giang cũng cho rằng cần có các giải pháp đồng bộ từ các cấp, các ngành nhằm duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư; đẩy mạnh giải ngân đầu tư công để tạo hiệu ứng lan tỏa sang đầu tư tư nhân; đồng thời phát triển mạnh thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, nhằm hình thành kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả, giảm áp lực cho tín dụng ngân hàng.
Bên cạnh đó, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, chiến lược, quy hoạch; cải cách thủ tục hành chính và tháo gỡ các vướng mắc trong đầu tư, kinh doanh sẽ góp phần nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng định hướng dòng vốn hiệu quả hơn.

Chuyên gia kinh tế, TS. Cấn Văn Lực.
Ở góc độ phát triển thị trường tài chính, TS. Cấn Văn Lực cho rằng cần hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, thống nhất, ổn định và “trung lập” hơn, bao gồm Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Chứng khoán, Luật Kinh doanh bảo hiểm cùng các quy định về doanh nghiệp, đầu tư, phá sản, tài sản bảo đảm và xử lý nợ. Đồng thời, cần xây dựng khung pháp lý cho các mô hình kinh doanh và các vấn đề mới phát sinh, với nguyên tắc quản lý theo rủi ro thay vì theo tên gọi hoặc loại hình.
Theo ông, thị trường tài chính cần được phát triển theo hướng cân bằng, đa dạng và bền vững thông qua thúc đẩy thị trường vốn, thị trường phái sinh, tài chính xanh và tài chính số; đa dạng hóa các định chế tài chính như quỹ đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ hưu trí, doanh nghiệp Fintech, quỹ đầu tư tín thác bất động sản (REITs), doanh nghiệp bảo hiểm, các tổ chức tài chính phi ngân hàng và chứng khoán hóa tài sản.
Cùng với đó, cần nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách; phát triển thị trường carbon, Trung tâm tài chính quốc tế (IFC), thị trường tài sản mã hóa; đồng thời thực hiện lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán và nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia nhằm giảm áp lực lên tín dụng ngân hàng và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.