Công ty TNHH kiểm toán CPA VIETNAM
Chất lượng dịch vụ - Sự hiểu biết - Tầm nhìn toàn cầu

Việt Nam vào nhóm thu nhập trung bình cao: Vì sao đo lường bằng GNI, không phải GDP?

17/08/2026 - 09:03      32 lượt xem
Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB) xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao khi GNI bình quân đầu người năm 2025 đạt 4.970 USD, vượt ngưỡng 4.636 USD. Theo Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) Lê Trung Hiếu, với một nền kinh tế có độ mở lớn và thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chỉ tiêu GNI phản ánh đầy đủ hơn khả năng tạo lập thu nhập của quốc gia so với việc chỉ xem xét GDP.
Nội dung chính[ẩn][hiện]

Việt Nam vào nhóm thu nhập trung bình cao: Vì sao đo lường bằng GNI, không phải GDP?

Theo Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu, GDP trả lời câu hỏi nền kinh tế tạo ra bao nhiêu của cải, còn GNI cho biết quốc gia thực sự giữ lại được bao nhiêu thu nhập từ kết quả sản xuất đó.

Với tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người năm 2025 đạt 4.970 USD, vượt ngưỡng 4.636 USD, tháng 7 vừa qua, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố Việt Nam chính thức được xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao.

Thành quả này đánh dấu hành trình 17 năm nỗ lực kể từ năm 2009, phản ánh năng lực tạo lập thu nhập của nền kinh tế đã được cải thiện rõ rệt, đồng thời góp phần nâng cao vị thế, uy tín và môi trường đầu tư của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những năm qua, sức khỏe của nền kinh tế Việt Nam luôn được đo lường bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP), tuy nhiên, theo Phó Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) Lê Trung Hiếu, với một nền kinh tế có độ mở lớn và thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chỉ tiêu GNI phản ánh đầy đủ hơn khả năng tạo lập thu nhập của quốc gia so với việc chỉ xem xét GDP.

GDP mới là điểm khởi đầu của chuỗi tài khoản kinh tế, để đánh giá đầy đủ chất lượng tăng trưởng và mức độ người dân được thụ hưởng thành quả phát triển, cần kết hợp với các chỉ tiêu về thu nhập như GNI, thu nhập quốc gia khả dụng (NDI) và đặc biệt là các tài khoản thu nhập theo khu vực thể chế.

Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu phân tích rõ, nếu chỉ tiêu GDP phản ánh quy mô giá trị gia tăng được tạo ra trên lãnh thổ kinh tế Việt Nam, thì GNI phản ánh phần thu nhập thực sự thuộc về các chủ thể thường trú của Việt Nam sau khi tính đến thu nhập từ các yếu tố sản xuất với nước ngoài. Nói một cách đơn giản, GDP trả lời câu hỏi nền kinh tế tạo ra bao nhiêu của cải, còn GNI cho biết quốc gia thực sự giữ lại được bao nhiêu thu nhập từ kết quả sản xuất đó.

Chỉ tiêu GDP phản ánh trực tiếp kết quả sản xuất của nền kinh tế và được biên soạn theo quý, theo ngành kinh tế và theo từng địa phương, là chỉ tiêu phù hợp để theo dõi diễn biến kinh tế và phục vụ công tác điều hành ngắn hạn của Chính phủ.

GDP cũng là chỉ tiêu được hầu hết các quốc gia và các tổ chức quốc tế sử dụng để đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhờ có tính kịp thời, khả năng so sánh quốc tế cao và hệ thống phương pháp luận thống nhất. Một điểm quan trọng là GDP có hệ thống chỉ tiêu tương ứng ở cấp địa phương là GRDP, giúp đánh giá kết quả phát triển của từng tỉnh, thành phố.

Trong khi đó, GNI được xác định trên cơ sở GDP cộng với thu nhập thuần từ các yếu tố sản xuất với nước ngoài. Như vậy, ngoài kết quả biên soạn GDP, việc tính toán GNI còn sử dụng các thông tin về thu nhập của người lao động, thu nhập đầu tư, thu nhập sở hữu và các khoản thu nhập yếu tố khác giữa Việt Nam và nước ngoài. Nguồn số liệu chủ yếu được khai thác từ kết quả biên soạn GDP của Cục Thống kê và số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam biên soạn.

Khác với GDP được biên soạn và công bố hằng quý để phục vụ theo dõi, đánh giá kịp thời diễn biến của nền kinh tế, chỉ tiêu GNI được Cục Thống kê biên soạn và công bố hàng năm do việc biên soạn chỉ tiêu này phụ thuộc vào số liệu về thu nhập giữa Việt Nam và nước ngoài, đặc biệt là số liệu cán cân thanh toán quốc tế, cần thời gian tổng hợp, đối chiếu và hoàn thiện nên chưa thể biên soạn theo quý như GDP.

Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu cho biết, do là nền kinh tế có độ mở lớn và thu hút mạnh vốn FDI, nên thu nhập từ yếu tố sản xuất phải trả cho nước ngoài thường lớn hơn thu nhập Việt Nam nhận được từ nước ngoài, vì vậy, GNI thường thấp hơn GDP.

Giai đoạn 2010-2025, tỷ lệ GNI/GDP dao động khoảng 93-96%, phản ánh đặc điểm của một nền kinh tế có độ mở lớn và thu hút nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hằng năm, phần lợi nhuận và thu nhập đầu tư mà các nhà đầu tư nước ngoài nhận được từ hoạt động tại Việt Nam lớn hơn thu nhập mà Việt Nam nhận từ đầu tư và lao động ở nước ngoài, nên GNI thấp hơn GDP. Đây là đặc điểm khá phổ biến của nhiều nền kinh tế đang phát triển.

Năm 2025, giá trị tăng thêm của khu vực FDI chiếm khoảng 20,1% GDP, trong khi thu nhập từ yếu tố sản xuất phải trả cho nước ngoài tương đương khoảng 3,9% GDP; ngược lại, thu nhập của lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài đạt khoảng 1,1% GDP. Những con số này cho thấy chênh lệch giữa GDP và GNI chủ yếu xuất phát từ dòng thu nhập đầu tư của khu vực FDI.

Phó Cục trưởng Lê Trung Hiếu ví dụ để hiểu rõ hơn: một doanh nghiệp FDI sản xuất điện thoại tại Việt Nam thì toàn bộ giá trị tăng thêm do doanh nghiệp tạo ra đều được tính vào GDP của Việt Nam. Tuy nhiên, phần lợi nhuận thuộc về nhà đầu tư nước ngoài không ở lại Việt Nam mà được ghi nhận là thu nhập sở hữu phải trả cho nước ngoài, chính khoản thu nhập này làm cho GNI thấp hơn GDP.

Ngược lại, nếu người lao động Việt Nam làm việc có thời hạn ở nước ngoài gửi thu nhập về nước thì đây được coi là thu nhập từ yếu tố sản xuất, được tính vào GNI và góp phần làm tăng thu nhập quốc gia. Như vậy, điểm khác biệt cốt lõi giữa GDP và GNI chính là thu nhập từ các yếu tố sản xuất (vốn và lao động) phát sinh giữa Việt Nam và phần còn lại của thế giới.

Có thể nói, nếu GDP là “thước đo quy mô và tốc độ” của nền kinh tế, thì GNI và hệ thống các tài khoản thu nhập sẽ là “thước đo chất lượng” của tăng trưởng. Hai hệ thống chỉ tiêu này không thay thế mà bổ sung cho nhau, giúp phản ánh đầy đủ hơn bức tranh phát triển của nền kinh tế và đời sống người dân.

01/10/2026 0
Trong tháng 9/2026, nhiều chính sách mới được Bộ Tài chính ban hành, nổi bật như: Ban hành danh mục chi tiết hàng dự trữ quốc gia do Bộ Tài chính trực tiếp quản lý; sửa đổi, bổ sung quy định về thuế tài nguyên; Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 của Thông tư số 158/2025/TT-BTC quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 360/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt; Hướng dẫn một số điều của Nghị định số 200/2026/NĐ-CP quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ…
Xem chi tiết
01/10/2026 0
Từ ngày 1/10, chính sách thuế nhập khẩu ưu đãi đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay tiếp tục được duy trì đến hết năm 2026, với mức áp dụng là 0% nhằm giảm chi phí đầu vào, hỗ trợ ổn định nguồn cung và hạn chế tác động của giá dầu thế giới…
Xem chi tiết
30/09/2026 8
Trong chỉ đạo mới về đẩy nhanh tiến độ 2 dự án cao tốc trọng điểm tại Lạng Sơn và Cao Bằng, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu Bộ Tài chính rà soát nhu cầu, khả năng giải ngân, nghiên cứu bố trí bổ sung nguồn vốn và hoàn thiện thủ tục điều chuyển vốn, góp phần bảo đảm nguồn lực cho mục tiêu hoàn thành các dự án trong năm 2026.
Xem chi tiết
30/09/2026 7
Tiến độ giải ngân đầu tư công năm 2026 đã có chuyển biến tích cực, song các dự án giao thông trọng điểm vẫn gặp phải những khó khăn cần tiếp tục xử lý để bảo đảm tiến độ. Rà soát từng dự án, các bộ, ngành, địa phương đang tập trung tháo gỡ vướng mắc về mặt bằng, vật liệu, nguồn lực, thủ tục và tổ chức thực hiện, đồng thời thống nhất số liệu để nâng cao hiệu quả, đẩy nhanh giải ngân trong những tháng cuối năm.
Xem chi tiết
30/09/2026 7
Theo đề xuất điều chỉnh danh mục hàng hóa phải làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập, Bộ Tài chính loại trừ điều hòa nhiệt độ thiết kế riêng cho phương tiện vận tải khỏi diện này, đồng thời vẫn dành nhiều trường hợp ngoại lệ để doanh nghiệp được làm thủ tục tại địa điểm phù hợp với hoạt động sản xuất, kinh doanh…
Xem chi tiết
29/09/2026 10
Huy động thêm vốn, đất đai, lao động chưa đủ để tạo đột phá tăng trưởng mà còn cần tháo gỡ rào cản thể chế, cải thiện chất lượng phân bổ và kết nối các nguồn lực để chuyển hóa thành năng suất và giá trị gia tăng.
Xem chi tiết
29/09/2026 10
Tính đến giữa tháng 9/2026, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã đối mặt với 327 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại tại 27 thị trường. Trong khi đó, Việt Nam đang duy trì 37 biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu.
Xem chi tiết
29/09/2026 10
Cùng một mức thuế suất thu nhập như doanh nghiệp, nhưng hộ kinh doanh vẫn chưa được hưởng cùng một cơ chế tính thuế. Với những hộ có doanh thu lớn, việc tính thuế thu nhập đã chuyển sang tính trên phần thu nhập sau khi trừ chi phí, song hộ vẫn nằm ngoài chuỗi khấu trừ thuế giá trị gia tăng (VAT). Khi quy mô kinh doanh ngày càng lớn và dữ liệu mua vào, bán ra ngày càng đầy đủ, sự khác biệt này trở thành khoảng trống đáng chú ý trong chuỗi VAT.
Xem chi tiết
Trụ sở chính
VP. Đại diện
CN. Miền Bắc
CN. TP Hồ Chí Minh
Key thời gian làm việc
Bản quyền © 2026 KIỂM TOÁN CPA VIETNAM. Bảo lưu mọi quyền. Thiết kế website bởi Tất Thành
Thống kê truy cập
Tổng truy cập: 487958 Đang truy cập: 325
Chính sách website