Chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, công nghiệp hỗ trợ được xác định là nền tảng nâng cao năng lực tự chủ của nền công nghiệp và mở ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị quốc tế. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, các doanh nghiệp cần vượt qua nhiều rào cản về công nghệ, hạ tầng, tiêu chuẩn sản xuất và năng lực cạnh tranh.

Các diễn giả chia sẻ nhiều thông tin về phát triển công nghiệp hỗ trợ. Ảnh: L.T
Công nghiệp hỗ trợ đứng trước cơ hội lớn
Chiều ngày 2/7, tại Diễn đàn “Công nghiệp hỗ trợ trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu: Định vị chiến lược và giải pháp phát triển cho doanh nghiệp” do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) phối hợp với Hiệp hội Công nghiệp Hỗ trợ TP. Hồ Chí Minh (HASI) tổ chức, các chuyên gia đã chia sẻ nhiều giải pháp giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, mở rộng cơ hội hợp tác và kết nối với các nhà đầu tư chiến lược, tổ chức tài chính cũng như các tập đoàn FDI lớn tại Việt Nam.
Dẫn số liệu về thu hút đầu tư và thương mại, bà Cao Thị Phi Vân, Phó Giám đốc ITPC cho biết, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026 đạt 24,81 tỷ USD, tăng 34,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút 8,06 tỷ USD.
Cùng với đó, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước tính đến ngày 15/6 đạt gần 496,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu gần 240 tỷ USD và nhập khẩu 256,7 tỷ USD. Ba nhóm hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn nhất gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 63,5 tỷ USD; điện thoại và linh kiện đạt 29 tỷ USD; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt gần 30 tỷ USD.
Theo bà Cao Thị Phi Vân, những con số trên cho thấy công nghiệp hỗ trợ không còn chỉ giữ vai trò phụ trợ mà đã trở thành nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải từng bước làm chủ linh kiện, phụ tùng, công nghệ và tiêu chuẩn chất lượng thay vì chỉ dừng lại ở hoạt động gia công.
Ở góc độ địa phương, bà Nguyễn Minh Tâm, Trưởng phòng Quản lý công nghiệp, Sở Công Thương TP. Hồ Chí Minh, cho biết sau khi mở rộng không gian công nghiệp từ tháng 7/2025, Thành phố hiện có 105 khu chế xuất, khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 50.288 ha; trong đó có 67 khu đã được thành lập và 58 khu đang hoạt động.
Đến năm 2030, TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu GRDP bình quân đầu người đạt 14.400 USD, đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa thêm từ 3-5% mỗi năm. Thành phố hướng tới tỷ lệ nội địa hóa trên 65% đối với ngành da giày, trên 60% đối với dệt may, trên 40% đối với cơ khí chế tạo, trên 30% đối với điện tử và ô tô, trong khi công nghiệp công nghệ cao đạt trên 15%.
Theo bà Nguyễn Minh Tâm, công nghiệp hỗ trợ được xác định là ngành trọng yếu, là trụ cột nâng cao chất lượng tăng trưởng. Trong 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất của bốn ngành công nghiệp trọng điểm tăng 13,4%. Riêng Khu Công nghệ cao đã thu hút 26 dự án công nghiệp hỗ trợ với tổng vốn 512,72 triệu USD; tỷ lệ nội địa hóa tăng từ khoảng 10% năm 2010 lên hơn 20%.
Bên cạnh những kết quả đạt được, dư địa phát triển của ngành vẫn còn rất lớn. Giá trị nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện lên tới 6,62 tỷ USD, mở ra cơ hội để doanh nghiệp trong nước tham gia thay thế hàng nhập khẩu. Đồng thời, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng theo chiến lược “Trung Quốc +1” cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng cấp 2, cấp 3 cho các tập đoàn đa quốc gia.
Tháo gỡ điểm nghẽn để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng
Bên cạnh cơ hội, các đại biểu cũng chỉ ra nhiều thách thức mà ngành công nghiệp hỗ trợ đang phải đối mặt. Theo đánh giá tại Diễn đàn, trình độ công nghệ của nhiều doanh nghiệp còn thấp, sản phẩm chủ yếu là các chi tiết đơn giản với giá trị gia tăng chưa cao. Tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, nhập siêu nguyên liệu và linh kiện vẫn lớn, trong khi mức độ tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu còn hạn chế.
Ở góc độ hạ tầng và nguồn lực, quỹ đất công nghiệp ngày càng thu hẹp, nhiều khu công nghiệp có tỷ lệ lấp đầy cao, làm giảm khả năng mở rộng sản xuất. Cùng với đó là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao đáp ứng yêu cầu tự động hóa, trong khi phần lớn doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế về vốn, năng lực nghiên cứu phát triển và quản trị chất lượng. Áp lực đáp ứng các tiêu chuẩn về chuyển đổi số, sản xuất xanh và truy xuất nguồn gốc cũng ngày càng lớn.
Chia sẻ về hạ tầng cho sản xuất công nghiệp bền vững, ông Đặng Tấn Đức, Viện trưởng Viện R&D, Tập đoàn Becamex, cho biết Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 lần đầu tiên xác định phát triển năng lực chuỗi cung ứng nội địa là mục tiêu trung tâm của chính sách thu hút FDI.
Theo đó, đến năm 2030, mục tiêu đặt ra là có gần 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng FDI; từ 500-1.000 nhà cung ứng cấp 1 của người Việt trong chuỗi FDI; đồng thời nâng tỷ lệ nội địa hóa các ngành công nghiệp chủ lực lên 45-50%.
Tuy nhiên, theo ông Đặng Tấn Đức, các cụm công nghiệp hỗ trợ dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện vẫn thiếu bốn lớp hạ tầng quan trọng. Đó là thiếu nhà xưởng tiêu chuẩn với quy mô nhỏ, linh hoạt để đáp ứng yêu cầu đánh giá của khách hàng FDI; thiếu hạ tầng kỹ thuật như điện sạch, hệ thống xử lý nước thải tập trung và hạ tầng số - những hạng mục đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, vượt quá khả năng tự đầu tư của nhiều doanh nghiệp...

Doanh nghiệp Việt ngày càng có nhiều cơ hội tham gia vào chuỗi cung ứng công nghiệp hỗ trợ. Ảnh: L.T
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Ngọc Đăng Khoa, Phó Giám đốc Phát triển kinh doanh, Công ty TNHH SMC Cơ khí chính xác Phú Mỹ, cho rằng ngoài các nền tảng quản lý như ISO 9001, ISO 14001, ISO 45001 và tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội RBA phiên bản 8.0, doanh nghiệp còn phải đáp ứng các chứng chỉ chuyên ngành như IATF 16949 đối với ngành ô tô, AS9100 đối với ngành hàng không vũ trụ hay ISO 13485 đối với thiết bị y tế.
Theo ông, hệ thống chứng chỉ này là điều kiện tiên quyết giúp chuẩn hóa hoạt động sản xuất, bảo đảm sản phẩm được sản xuất tại các nhà máy khác nhau vẫn đạt mức độ đồng nhất cao về thông số kỹ thuật.
Tại phiên tọa đàm với chủ đề “Đồng hành cùng ngành Công nghiệp Hỗ trợ Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu”, các nhà quản lý, đại diện tổ chức quốc tế, chuyên gia và doanh nghiệp đã tập trung trao đổi những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp hỗ trợ.
Nhiều giải pháp được đề xuất như phát huy nội lực của doanh nghiệp, thúc đẩy liên kết chuỗi giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn kích cầu bền vững và tăng cường kết nối tri thức toàn cầu với các tập đoàn đa quốc gia.
Đặc biệt, xu hướng chuyển đổi số, ứng dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo được xác định là lợi thế cạnh tranh mới, góp phần giúp các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tối ưu năng suất, nâng cao hiệu quả sản xuất và mở rộng cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.