Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1119/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 368/QĐ-TTg về ban hành Chiến lược tài chính đến năm 2030. Quyết định mới cập nhật các mục tiêu tài chính - ngân sách, đồng thời bổ sung nhóm giải pháp nhằm tạo nền tảng thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên.

Chính phủ đề ra mục tiêu nâng tỷ trọng thu nội địa từ mức khoảng 86-87% lên 87-88%.
Hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực để đạt tăng trưởng GDP 2 con số
Theo Quyết định số 1119/QĐ-TTg, một số mục tiêu trong Chiến lược tài chính đến năm 2030 được điều chỉnh theo hướng phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, trong đó đáng chú ý là nâng mục tiêu tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 từ khoảng 16-17% GDP lên khoảng 18% GDP.
Cùng với đó, mục tiêu về cơ cấu thu ngân sách cũng được điều chỉnh, trong đó tỷ trọng thu nội địa được nâng từ mức khoảng 86-87% lên 87-88%, góp phần tăng tính ổn định, bền vững của nguồn thu ngân sách nhà nước.
Về cơ cấu chi, Quyết định số 1119/QĐ-TTg quy định cụ thể hơn định hướng phân bổ nguồn lực, trong đó chi đầu tư phát triển phấn đấu đạt khoảng 40% tổng chi ngân sách nhà nước, chi thường xuyên khoảng 51-52%. Mức bội chi ngân sách nhà nước đến năm 2030 được điều chỉnh từ khoảng 3% GDP lên khoảng 5% GDP nhằm đáp ứng yêu cầu huy động nguồn lực cho phát triển, trong khi trần nợ nước ngoài của quốc gia được nâng từ 45% GDP lên 50% GDP.
Bên cạnh các mục tiêu về tài chính - ngân sách, Quyết định số 1119/QĐ-TTg bổ sung định hướng đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công, tiếp tục tinh gọn đầu mối, chỉ duy trì các đơn vị sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ chính trị và cung cấp dịch vụ công thiết yếu.
Đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước, chiến lược đặt ra các mục tiêu cụ thể hơn, phấn đấu đến năm 2030 có 50 doanh nghiệp nhà nước lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1-3 doanh nghiệp thuộc nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Một nội dung quan trọng khác tại Quyết định số 1119/QĐ-TTg là bổ sung các giải pháp thực hiện mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên.
Theo đó, Chính phủ xác định nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển, xóa bỏ các rào cản, điểm nghẽn, giải phóng sức sản xuất và khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế.
Các bộ, ngành, địa phương được yêu cầu xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Cùng với đó, tập trung rà soát, sửa đổi các quy định liên quan đến phát triển kinh tế số, nhất là các lĩnh vực công nghệ tài chính, tài sản số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, các ngành công nghệ mới và hoạt động đầu tư kinh doanh. Chính phủ đặt mục tiêu tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, chuẩn hóa, số hóa toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục trên môi trường số, tăng cường liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, giảm tối đa thời gian và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.
Theo mục tiêu đề ra, phấn đấu đến năm 2028 môi trường đầu tư của Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới.
Quyết định cũng yêu cầu nghiên cứu, đề xuất cơ chế phù hợp để xử lý hiệu quả tài sản công là nhà, đất dôi dư, tránh tình trạng hư hỏng, xuống cấp, gây lãng phí.
Phát huy vai trò các khu vực kinh tế, thúc đẩy động lực tăng trưởng mới
Trong giai đoạn 2026-2030, Chính phủ tiếp tục xác định phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, giữ vai trò chủ đạo trong bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế.
Trọng tâm là đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường vai trò dẫn dắt trong một số lĩnh vực quan trọng; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo nguyên tắc hiệu quả, không để thất thoát, lãng phí.
Cùng với khu vực kinh tế nhà nước, Quyết định số 1119/QĐ-TTg nhấn mạnh yêu cầu phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân, triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính, tín dụng.
Đối với kinh tế tập thể, hợp tác xã, Chính phủ yêu cầu hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, thu hút nguồn lực, thúc đẩy ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, nông nghiệp hữu cơ, chuyển đổi số và mở rộng thị trường.
Đối với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, định hướng mới là thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư, chuyển từ trọng tâm ưu đãi thuế sang các chính sách ưu đãi gắn với kết quả, chú trọng chuyển giao công nghệ, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với khu vực trong nước.
Bên cạnh đó, Chính phủ yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quy hoạch, lấy quy hoạch làm công cụ chủ yếu để huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả; xây dựng, vận hành Cổng một cửa đầu tư quốc gia và địa phương trên cơ sở số hóa toàn bộ quy trình thủ tục đầu tư.
Điều hành chính sách tài khóa chủ động, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia
Để tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững, Quyết định số 1119/QĐ-TTg yêu cầu phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Chính sách tài khóa được định hướng mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm; xây dựng hệ thống thuế hiện đại, minh bạch, vừa hỗ trợ tăng trưởng vừa bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước.
Cùng với đó, công tác quản lý ngân sách tiếp tục được đổi mới theo hướng nâng cao hiệu quả thu - chi. Chính phủ yêu cầu tăng cường quản lý thu, chống thất thu, chuyển giá, gian lận thương mại; triệt để tiết kiệm chi, ưu tiên nguồn lực cho đầu tư phát triển, các nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội và các nhiệm vụ chiến lược.
Việc bố trí vốn cho các chương trình mục tiêu quốc gia phải bảo đảm hiệu quả, khả thi, tránh trùng lặp, phù hợp với tiến độ thực hiện, khả năng giải ngân và cân đối ngân sách nhà nước. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền để các cơ quan, đơn vị chủ động triển khai nhiệm vụ.
Trong quản lý tài sản công, các cơ quan, địa phương được yêu cầu tận dụng tối đa công năng sử dụng trụ sở hiện có, hạn chế xây dựng mới trung tâm hành chính, trụ sở làm việc khi chưa thực sự cần thiết, bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách và phòng, chống lãng phí.
Về nợ công, Chính phủ yêu cầu tiếp tục triển khai hiệu quả Luật Quản lý nợ công, tăng cường quản lý rủi ro, nâng cao tính minh bạch trong huy động, sử dụng và cung cấp thông tin về nợ công; điều hành linh hoạt công cụ, kỳ hạn, thời điểm và khối lượng vay nhằm giảm chi phí huy động vốn, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia.
Ngoài ra, các giải pháp nâng cao xếp hạng tín nhiệm quốc gia, phát triển trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, thị trường tín chỉ các-bon và các sản phẩm tài chính hiện đại cũng được đưa vào nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Chính phủ đồng thời yêu cầu đẩy mạnh thực thi các hiệp định thương mại tự do, mở rộng thị trường xuất khẩu, tăng cường chống gian lận xuất xứ hàng hóa, tận dụng nguồn lực từ kiều hối, đầu tư của người Việt Nam ở nước ngoài, cũng như huy động các nguồn lực quốc tế phục vụ chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Quyết định số 1119/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành từ ngày 23/6/2026.