Công ty TNHH kiểm toán CPA VIETNAM
Chất lượng dịch vụ - Sự hiểu biết - Tầm nhìn toàn cầu

Mô hình phát triển mới: Mở thêm “biên giới tăng trưởng” cho nền kinh tế

03/09/2026 - 09:33      15 lượt xem
Đổi mới mô hình phát triển không chỉ chuyển từ tăng trưởng dựa vào mở rộng nguồn lực sang dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, mà còn mở ra những không gian, động lực tăng trưởng mới. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Trịnh Xuân An, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Đồng Nai cho rằng, đây là nền tảng để Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn, chất lượng hơn và bền vững hơn, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Nội dung chính[ẩn][hiện]

Mô hình phát triển mới

Đại biểu Trịnh Xuân An, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Đồng Nai.

Tạo lập một mô hình phát triển mới với những động lực mới

Phóng viên: Thưa đại biểu, Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam được Ban Chấp hành Trung ương xác định chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. Theo đại biểu, định hướng này có ý nghĩa như thế nào đối với chặng đường phát triển mới của Việt Nam và việc hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045?

Đại biểu Trịnh Xuân An: Tôi cho rằng, việc Ban Chấp hành Trung ương xác định chuyển đổi sang mô hình phát triển “tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập” là một định hướng rất quan trọng, thể hiện sự đổi mới về tư duy và phương thức phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Đặc biệt, để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, chúng ta không thể chỉ kéo dài mô hình tăng trưởng của những thập niên trước, mà phải tạo lập một mô hình phát triển mới với những động lực mới.

Theo tôi, có thể nhìn nhận ý nghĩa của định hướng này trên 4 phương diện:

Một là, chuyển mạnh từ tăng trưởng dựa vào mở rộng nguồn lực sang tăng trưởng dựa vào năng suất, chất lượng và hiệu quả. Những lợi thế truyền thống như lao động, tài nguyên, vốn đầu tư hay mở rộng quy mô sản xuất đã đóng góp rất lớn cho phát triển, nhưng dư địa không còn nhiều. Chặng đường tới năm 2045 đòi hỏi chúng ta không chỉ “làm nhiều hơn” mà quan trọng hơn là phải “làm thông minh hơn, hiệu quả hơn và tạo ra giá trị cao hơn” trên cùng một đơn vị nguồn lực.

Hai là, xây dựng một nền kinh tế tự cường gắn với năng lực tự chủ chiến lược của đất nước. Tự cường không có nghĩa là khép kín hay tự cung, tự cấp, mà là xây dựng nội lực đủ mạnh để hội nhập sâu rộng nhưng không bị phụ thuộc; có khả năng thích ứng, chống chịu trước những biến động từ bên ngoài và chủ động lựa chọn con đường phát triển. Trong đó, đặc biệt quan trọng là năng lực tự chủ về khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực, năng lượng, hạ tầng chiến lược, các chuỗi cung ứng thiết yếu và năng lực của doanh nghiệp Việt Nam. Nội lực càng mạnh thì hội nhập càng trở thành sức mạnh.

Ba là, đưa khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực trung tâm của phát triển. Khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ chiến lược không còn chỉ là những lĩnh vực hỗ trợ mà phải trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra năng suất, giá trị gia tăng, ngành nghề và không gian phát triển mới. Đây chính là con đường căn bản để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tiến tới trình độ của một quốc gia phát triển.

Bốn là, phát triển nhanh phải đồng thời nhân văn, bền vững và gắn với hội nhập ở trình độ cao hơn. Mục tiêu cuối cùng của tăng trưởng vẫn phải là con người, là nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo cơ hội để mọi người dân tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển. Đồng thời, Việt Nam phải chuyển từ chủ yếu tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu sang từng bước vươn lên những khâu có giá trị cao hơn, phát triển doanh nghiệp, công nghệ, sản phẩm và thương hiệu Việt Nam có sức cạnh tranh quốc tế.

Năm thành tố “tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập” có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tự cường tạo nền tảng; sáng tạo tạo động lực; nhân văn xác định mục tiêu; bền vững bảo đảm sự phát triển lâu dài; hội nhập mở rộng không gian và nguồn lực phát triển.

Điều quan trọng nhất hiện nay là phải chuyển những định hướng đó thành hành động cụ thể: thể chế phải trở thành lợi thế cạnh tranh; khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo phải tạo ra tăng trưởng; doanh nghiệp Việt Nam phải lớn mạnh; nguồn nhân lực phải được nâng lên; hạ tầng chiến lược phải đi trước một bước.

Tôi cho rằng, có thể khái quát tinh thần của Nghị quyết bằng một thông điệp: Một mục tiêu phát triển mới đòi hỏi một mô hình phát triển mới. Đó chính là điều kiện để Việt Nam tạo ra bước phát triển bứt phá và hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Phóng viên: Trong nhóm giải pháp về kinh tế, Nghị quyết xác định mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo đại biểu, đâu là những động lực then chốt để hiện thực hóa mô hình tăng trưởng này và tạo đột phá cho nền kinh tế trong giai đoạn tới?

Đại biểu Trịnh Xuân An: Theo tôi, điểm rất đáng chú ý của Nghị quyết là không chỉ đặt yêu cầu tăng trưởng nhanh hơn mà đã chỉ khá rõ tăng trưởng trong giai đoạn tới phải dựa vào đâu. Đó là năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Muốn biến những định hướng này thành động lực tăng trưởng thực sự, trước hết phải tạo đột phá về năng suất, coi năng suất là thước đo quan trọng của chất lượng tăng trưởng. Trong giai đoạn tới, chúng ta không thể chủ yếu tăng trưởng bằng cách tăng vốn, tăng lao động hay khai thác thêm tài nguyên, mà phải tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một đơn vị nguồn lực. Điều này đòi hỏi phải tái cơ cấu nền kinh tế, phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, phát triển những ngành có năng suất và giá trị gia tăng cao; đồng thời, nâng cao năng lực quản trị của cả Nhà nước và doanh nghiệp.

Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải thực sự trở thành động lực trực tiếp của tăng trưởng. Vấn đề không chỉ là đầu tư thêm cho khoa học - công nghệ, mà phải đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh, thương mại hóa sản phẩm và hình thành những ngành công nghiệp, dịch vụ mới. Đặc biệt, cần tập trung vào những công nghệ chiến lược mà Việt Nam có khả năng tham gia sâu như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu, công nghệ số, công nghệ sinh học, năng lượng mới và một số lĩnh vực công nghệ cao.

Việc tổ chức lại không gian phát triển không chỉ giúp sử dụng tốt hơn nguồn lực hiện có mà còn mở thêm những “biên giới tăng trưởng” mới cho nền kinh tế Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

Doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, bởi cuối cùng công nghệ chỉ tạo ra giá trị kinh tế khi được chuyển hóa thành sản phẩm, năng suất và giá trị gia tăng. Vì vậy, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam lớn lên, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Mục tiêu không chỉ là có thêm doanh nghiệp về số lượng, mà phải hình thành ngày càng nhiều doanh nghiệp có công nghệ, có thương hiệu và có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Chuyển đổi xanh cũng cần được nhìn nhận không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn là một động lực kinh tế mới. Kinh tế xanh, năng lượng sạch, kinh tế tuần hoàn, thị trường carbon hay các tiêu chuẩn xanh đang làm thay đổi thương mại và đầu tư toàn cầu. Nếu đi nhanh, Việt Nam có thể biến sức ép chuyển đổi thành cơ hội tái cấu trúc nền kinh tế, thu hút dòng vốn và công nghệ mới, hình thành những ngành sản xuất mới. Tuy nhiên, chuyển đổi xanh phải phù hợp với điều kiện và năng lực của nền kinh tế, bảo đảm an ninh năng lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tất cả những động lực trên cuối cùng đều phụ thuộc vào con người và thể chế. Không thể có nền kinh tế sáng tạo nếu thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao; cũng không thể có doanh nghiệp đổi mới sáng tạo nếu thể chế còn tạo ra rào cản cho cái mới. Vì vậy, phải đồng thời đổi mới căn bản giáo dục, đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài; xây dựng môi trường pháp lý khuyến khích sáng tạo, cho phép thử nghiệm những mô hình mới và chấp nhận mức độ rủi ro hợp lý trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.

Điều quan trọng là không nên nhìn các động lực này một cách riêng lẻ. Khoa học - công nghệ phải đi cùng nhân lực; chuyển đổi số phải đi cùng cải cách thể chế; chuyển đổi xanh phải tạo ra ngành kinh tế mới và tất cả phải được chuyển hóa thành năng suất, sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Mở thêm những “biên giới tăng trưởng” mới cho nền kinh tế

Phóng viên: Nghị quyết đề xuất tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng đa tầng, đa cực và khai thác các không gian mới như biển, không gian ngầm, không gian số, không gian tầm thấp. Theo đại biểu, những định hướng này sẽ tạo ra dư địa tăng trưởng mới như thế nào?

Đại biểu Trịnh Xuân An: Đây là một trong những tư duy rất mới và đáng chú ý của Nghị quyết. Khi những dư địa tăng trưởng truyền thống ngày càng thu hẹp, tổ chức lại không gian phát triển và mở ra những không gian phát triển mới chính là tạo thêm nguồn lực, thị trường và động lực tăng trưởng mới cho đất nước.

Tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng đa tầng, đa cực sẽ giúp phân bổ và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Thay vì phát triển tương đối dàn trải hoặc tập trung quá mức vào một số đô thị lớn, cần hình thành các cực tăng trưởng, vùng động lực, hành lang kinh tế và các trung tâm có khả năng dẫn dắt, đồng thời tăng cường liên kết giữa quốc gia - vùng - địa phương. Khi hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số kết nối tốt hơn, nguồn lực sẽ được dịch chuyển tới nơi có khả năng tạo ra giá trị cao hơn, qua đó hình thành những chuỗi sản xuất và không gian kinh tế có quy mô lớn hơn.

Không gian biển và không gian ngầm cũng cần được khai thác mạnh hơn. Việt Nam có lợi thế rất lớn về biển nhưng tiềm năng kinh tế biển còn nhiều dư địa. Không gian biển trong giai đoạn tới không chỉ là khai thác tài nguyên hay vận tải biển mà còn là cảng biển, logistics, đô thị biển, du lịch, năng lượng tái tạo, công nghiệp và các ngành kinh tế biển công nghệ cao.

Tương tự, không gian ngầm cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển, nhất là tại các đô thị lớn. Phát triển giao thông ngầm, hạ tầng kỹ thuật, thương mại, dịch vụ và các công trình ngầm sẽ giúp tạo thêm không gian phát triển mà không nhất thiết phải mở rộng diện tích đô thị, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

Không gian số mở ra một dư địa tăng trưởng gần như không bị giới hạn bởi địa giới hành chính. Dữ liệu, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và các dịch vụ số đang hình thành một không gian kinh tế hoàn toàn mới. Một doanh nghiệp Việt Nam có thể cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thị trường toàn cầu mà không nhất thiết phải mở rộng tương ứng về nhà xưởng hay diện tích vật chất. Vì vậy, nếu làm chủ được dữ liệu, hạ tầng số và công nghệ, không gian số có thể trở thành một trong những không gian tăng trưởng có tốc độ nhanh nhất trong những năm tới.

Mô hình phát triển mới

Để đổi mới mô hình phát triển, một yêu cầu rất quan trọng là phải khơi thông và phát huy cao nhất nguồn lực của tất cả các khu vực kinh tế. Ảnh: Lê Toàn

Việc xác định không gian tầm thấp như một không gian phát triển mới cũng rất đáng chú ý. Đây có thể là địa bàn hình thành nhiều ngành kinh tế mới gắn với thiết bị bay không người lái, vận tải, logistics, nông nghiệp, khảo sát, quan trắc, viễn thông, cứu hộ, cứu nạn và nhiều dịch vụ mới. Điều quan trọng là phải sớm xây dựng thể chế, hạ tầng và cơ chế quản lý phù hợp để vừa khai thác được giá trị kinh tế, vừa bảo đảm quốc phòng, an ninh và an toàn.

Mở rộng không gian phát triển phải luôn gắn chặt với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Những không gian mới như biển, không gian ngầm, không gian số hay không gian tầm thấp đều vừa là không gian kinh tế, vừa là không gian chiến lược về quốc phòng, an ninh. Vì vậy, ngay từ khâu quy hoạch, xây dựng thể chế và đầu tư hạ tầng phải quán triệt yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; thiết kế theo hướng lưỡng dụng, vừa phục vụ phát triển trong điều kiện bình thường, vừa có khả năng đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh khi cần thiết.

Điểm mới trong tư duy ở đây là chúng ta không chỉ tìm kiếm thêm nguồn lực trong những không gian đã có, mà chủ động kiến tạo những không gian phát triển mới. Nếu trước đây nói đến nguồn lực phát triển, chúng ta thường nghĩ đến đất đai, vốn, lao động và tài nguyên, thì trong giai đoạn tới, biển, lòng đất, dữ liệu, không gian số và không gian tầm thấp cũng phải được nhìn nhận như những nguồn lực kinh tế quan trọng.

Vấn đề quyết định là phải có thể chế đi trước để xác lập quyền khai thác, phương thức quản lý, cơ chế đầu tư và bảo đảm quốc phòng, an ninh đối với từng không gian. Khi đó, việc tổ chức lại không gian phát triển không chỉ giúp sử dụng tốt hơn nguồn lực hiện có mà còn mở thêm những “biên giới tăng trưởng” mới cho nền kinh tế Việt Nam trong nhiều thập niên tới.

Khơi thông, phát huy cao nhất nguồn lực từ các khu vực kinh tế

Phóng viên: Theo đại biểu, việc phát huy đồng thời vai trò của kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể và FDI sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp như thế nào để hiện thực hóa mục tiêu đổi mới mô hình phát triển đất nước?

Đại biểu Trịnh Xuân An: Để đổi mới mô hình phát triển, một yêu cầu rất quan trọng là phải khơi thông và phát huy cao nhất nguồn lực của tất cả các khu vực kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể và khu vực FDI có vị trí, thế mạnh khác nhau nhưng không tách rời nhau; vấn đề là phải tạo được sự liên kết, bổ trợ và cộng hưởng để hình thành sức mạnh chung của nền kinh tế.

Kinh tế nhà nước cần phát huy tốt vai trò dẫn dắt, kiến tạo và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực then chốt, chiến lược, hạ tầng quan trọng và những lĩnh vực khu vực khác chưa thể hoặc chưa muốn đầu tư. Doanh nghiệp nhà nước cũng cần phát huy vai trò tiên phong trong một số ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ chiến lược, năng lượng, hạ tầng và những lĩnh vực gắn với quốc phòng, an ninh. Điều quan trọng là nguồn lực nhà nước phải tạo ra hiệu ứng dẫn dắt, kích hoạt và thu hút thêm nguồn lực xã hội chứ không thay thế thị trường.

Kinh tế tư nhân phải thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đây là khu vực có khả năng rất lớn trong huy động nguồn lực xã hội, đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và thích ứng nhanh với thị trường. Giai đoạn tới cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam không chỉ tăng về số lượng mà phải lớn mạnh về quy mô, công nghệ, năng lực quản trị và sức cạnh tranh; hình thành nhiều doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt chuỗi sản xuất, vươn ra thị trường khu vực và toàn cầu.

Đổi mới mô hình phát triển không chỉ để Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn mà quan trọng hơn là tạo năng lực để tăng trưởng nhanh hơn, chất lượng hơn và bền vững hơn. Đó là nền tảng thực chất để duy trì mục tiêu tăng trưởng 2 con số và tiến tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Kinh tế tập thể cần được đổi mới để phát huy tốt hơn vai trò liên kết những nguồn lực phân tán trong xã hội, nhất là trong nông nghiệp, dịch vụ và kinh tế địa phương. Hợp tác xã kiểu mới phải trở thành phương thức để hộ gia đình, người sản xuất nhỏ tham gia vào chuỗi giá trị lớn hơn, ứng dụng công nghệ, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường. Đây cũng là một thành tố quan trọng để mô hình phát triển mới vừa hiệu quả, vừa bao trùm và nhân văn.

Đối với khu vực FDI, cần chuyển mạnh từ tư duy thu hút vốn sang lựa chọn và khai thác chất lượng của dòng vốn đầu tư. Chúng ta cần FDI không chỉ mang vốn và việc làm mà phải mang theo công nghệ, phương thức quản trị, mạng lưới thị trường và khả năng kết nối với chuỗi giá trị toàn cầu. Quan trọng hơn là phải nâng cao liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và từng bước tiếp nhận, làm chủ công nghệ.

Đột phá thực sự nằm ở sự liên kết giữa bốn khu vực này. Nhà nước đầu tư và kiến tạo những nền tảng chiến lược; doanh nghiệp tư nhân tạo sức bật và năng lực đổi mới; kinh tế tập thể mở rộng sự tham gia và tính bao trùm; FDI bổ sung vốn, công nghệ, quản trị và kết nối quốc tế.

Vì vậy, chúng ta không nên đặt vấn đề khu vực nào quan trọng hơn khu vực nào, mà phải đặt đúng vai, phát huy đúng thế mạnh và tạo cơ chế để các khu vực kinh tế cùng phát triển, liên kết và cộng hưởng với nhau. Khi các nguồn lực này cùng được khơi thông và vận hành trong một thể chế minh bạch, bình đẳng, hiệu quả, nền kinh tế sẽ có sức mạnh tổng hợp đủ lớn để đổi mới mô hình phát triển và bước sang một “nấc thang” phát triển cao hơn.

Tăng trưởng nhanh hơn, chất lượng hơn và bền vững hơn

Phóng viên: Đại biểu kỳ vọng mô hình phát triển mới sẽ tác động như thế nào đến mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế 2 con số trong những năm tới?

Đại biểu Trịnh Xuân An: Mô hình phát triển mới có ý nghĩa quyết định đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong những năm tới. Vấn đề đặt ra không chỉ là đạt được tăng trưởng 2 con số trong 1 hoặc 2 năm, mà quan trọng hơn là tạo nền tảng để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian đủ dài, qua đó đưa đất nước tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Muốn duy trì tăng trưởng cao, trước hết phải tạo ra những động lực mới để bổ sung và từng bước thay thế những động lực truyền thống đang tới hạn. Nếu tiếp tục chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên hay mở rộng quy mô sản xuất thì rất khó duy trì tăng trưởng 2 con số. Mô hình mới chuyển trọng tâm sang năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những động lực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn và có dư địa phát triển lâu dài hơn.

Bên cạnh việc tạo động lực mới, phải nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có. Muốn tăng trưởng hai con số không nhất thiết chỉ là huy động thêm thật nhiều vốn, đất đai hay lao động. Điều quan trọng hơn là phải làm cho mỗi đồng vốn, mỗi mét vuông đất, mỗi giờ lao động tạo ra nhiều giá trị hơn. Vì vậy, cải cách thể chế, nâng cao năng suất, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ sẽ quyết định chất lượng cũng như khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng.

Việc tổ chức lại không gian phát triển quốc gia và khai thác những không gian mới như biển, không gian ngầm, không gian số, không gian tầm thấp cũng sẽ mở thêm những thị trường, ngành nghề và nguồn lực mới. Đây là cách mở rộng “biên giới tăng trưởng”, tạo thêm dư địa cho nền kinh tế thay vì chỉ dựa vào những động lực truyền thống.

Một yếu tố quan trọng khác là phải phát huy hiệu quả tổng hợp của các khu vực kinh tế và kết hợp tốt hơn nguồn lực trong nước với nguồn lực quốc tế. Khi kinh tế nhà nước phát huy vai trò kiến tạo, kinh tế tư nhân tạo sức bật, kinh tế tập thể tăng cường liên kết và FDI bổ sung vốn, công nghệ, quản trị và kết nối toàn cầu, các nguồn lực sẽ được huy động và sử dụng hiệu quả hơn.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng tăng trưởng 2 con số phải là tăng trưởng có chất lượng. Chúng ta không thể đánh đổi ổn định kinh tế vĩ mô, môi trường, an sinh xã hội hay quốc phòng, an ninh để lấy tốc độ tăng trưởng trước mắt. Điều quan trọng hơn là biến tốc độ tăng trưởng cao thành năng lực tăng trưởng cao, để nền kinh tế có thể duy trì đà phát triển trong dài hạn.

Vì vậy, đổi mới mô hình phát triển không chỉ để Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn mà quan trọng hơn là tạo năng lực để tăng trưởng nhanh hơn, chất lượng hơn và bền vững hơn. Đó là nền tảng thực chất để duy trì mục tiêu tăng trưởng 2 con số và tiến tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn đại biểu!

10/09/2026 5
Bộ Tài chính đề nghị các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cùng rà soát các quy định pháp luật trong lĩnh vực tài chính, qua đó nhận diện những quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa rõ ràng, không khả thi hoặc không còn phù hợp với thực tiễn. Việc rà soát được Bộ Tài chính triển khai nhằm tiếp tục hoàn thiện kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tài chính.
Xem chi tiết
10/09/2026 4
Trường Bồi dưỡng cán bộ Kinh tế - Tài chính (Bộ Tài chính) tổ chức khóa đào tạo trực tuyến gồm 12 chuyên đề, kết hợp lý thuyết và thực hành nhằm trang bị, chuẩn hóa kiến thức nghiệp vụ hải quan cho người học.
Xem chi tiết
10/09/2026 4
Từ mức 500.000 đồng và 1 triệu đồng tùy phương thức nhập khẩu, ngưỡng miễn thuế đối với hàng hóa giá trị nhỏ được đề xuất thống nhất xuống 100.000 đồng. Thay đổi này đặt ra yêu cầu mới đối với hoạt động nhập khẩu qua thương mại điện tử, đồng thời nhằm hạn chế tình trạng chia nhỏ đơn hàng, khai thấp giá trị để hưởng ưu đãi thuế…
Xem chi tiết
09/09/2026 9
Thay vì chỉ phát triển các khu công nghiệp mới theo tiêu chí xanh, TP. Đồng Nai đang đặt ra lộ trình chuyển hóa những khu công nghiệp đã hình thành sang mô hình xanh, sinh thái. Từ sản xuất sạch hơn, cộng sinh công nghiệp đến sử dụng năng lượng hiệu quả và kiểm kê khí nhà kính, quá trình này đang được cụ thể hóa bằng một loạt kế hoạch trong năm 2026.
Xem chi tiết
09/09/2026 10
Một trong những nhiệm vụ chính của tổ công tác là nghiên cứu, đánh giá thực trạng và tổng hợp kinh nghiệm trong nước, quốc tế để đề xuất mô hình, giải pháp phù hợp với điều kiện phát triển của thành phố…
Xem chi tiết
09/09/2026 8
Sau khi cơ bản hoàn thiện thể chế và bộ máy, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Trung tâm Tài chính Quốc tế chuyển nhanh sang giai đoạn vận hành thực chất, trong đó các sản phẩm đã sẵn sàng và đáp ứng đầy đủ điều kiện cần được triển khai ngay, thay vì chờ hoàn thiện toàn bộ hệ thống…
Xem chi tiết
08/09/2026 10
UBND TP. Huế định hướng phát triển kinh tế đêm tại Đại Nội và các không gian văn hóa theo phương thức đối tác công tư, nhằm khai thác hiệu quả giá trị di sản, đa dạng sản phẩm du lịch, kéo dài thời gian lưu trú và thúc đẩy công nghiệp văn hóa.
Xem chi tiết
08/09/2026 8
Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Thông tư ban hành Quy chế quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí, hướng tới hình thành hệ thống dữ liệu thống nhất, liên thông trên phạm vi toàn quốc, phục vụ quản lý, giám sát và nâng cao hiệu quả phòng, chống lãng phí.
Xem chi tiết
Trụ sở chính
VP. Đại diện
CN. Miền Bắc
CN. TP Hồ Chí Minh
Key thời gian làm việc
Bản quyền © 2026 KIỂM TOÁN CPA VIETNAM. Bảo lưu mọi quyền. Thiết kế website bởi Tất Thành
Thống kê truy cập
Tổng truy cập: 487958 Đang truy cập: 325
Chính sách website