Theo TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), Nghị quyết số 10-NQ/TW không chỉ khẳng định vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mà còn mang đến nhiều đột phá về tư duy và chính sách, qua đó củng cố niềm tin của các nhà đầu tư chiến lược đối với môi trường đầu tư Việt Nam. Để những định hướng này sớm đi vào cuộc sống, nhiệm vụ cấp bách là đẩy nhanh quá trình thể chế hóa Nghị quyết.

TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE).
Phóng viên: Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị được đánh giá là một văn kiện có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo ông, đâu là ý nghĩa nổi bật nhất của Nghị quyết?
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Từ góc nhìn của tôi và Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), đây là một nghị quyết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tính chiến lược và thể hiện nhiều tư duy đổi mới so với Nghị quyết số 50-NQ/TW năm 2019.
Sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều mong đợi sẽ có một nghị quyết dành riêng cho khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết số 10-NQ/TW đã đáp ứng sự kỳ vọng đó, đồng thời thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Điều quan trọng trước hết là Nghị quyết tiếp tục khẳng định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, được khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các khu vực kinh tế khác và cạnh tranh theo quy định của pháp luật.
Đây là một thông điệp rất có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược có tiềm lực về công nghệ, tài chính, đầu tư dài hạn và có khả năng dẫn dắt sự phát triển của doanh nghiệp trong nước.
Đối với nhóm nhà đầu tư này, điều họ cần không chỉ là các chính sách ưu đãi mà còn là cam kết lâu dài về môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp. Vì vậy, việc Nghị quyết khẳng định Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, lợi nhuận cùng các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài. Đây là một thông điệp rất mạnh mẽ, rõ ràng.
Một nội dung quan trọng khác là nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với các khu vực kinh tế khác. Mặc dù quan điểm này đã được đề cập trong các văn kiện trước đây, nhưng trong bối cảnh hiện nay, nội dung đó càng có ý nghĩa khi vẫn còn tồn tại một số cách nhìn chưa đầy đủ về vai trò của khu vực FDI.
Do đó, việc Nghị quyết được ban hành có ý nghĩa rất quan trọng trong việc củng cố niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài đối với triển vọng đầu tư lâu dài tại Việt Nam.
Thực tế, các nhà đầu tư nước ngoài luôn có niềm tin vào triển vọng phát triển của Việt Nam, vào sự ổn định chính trị, chất lượng nguồn nhân lực, cũng như vị thế ngày càng cao của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Điều họ quan tâm là vai trò của mình sẽ được nhìn nhận như thế nào trong chiến lược phát triển dài hạn của đất nước. Tôi cho rằng Nghị quyết số 10-NQ/TW đã giải đáp rất rõ điều đó.
Qua trao đổi với một số nhà đầu tư nước ngoài ngay sau khi Nghị quyết được ban hành, tôi nhận thấy họ đều đón nhận văn kiện này với tâm thế rất tích cực. Họ đánh giá Nghị quyết có nhiều điểm mới rất quan trọng, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc đồng hành, tạo điều kiện để khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục phát triển lâu dài, ổn định và hiệu quả.
Phóng viên: Theo ông, đâu là những điểm mới, những điểm đột phá về tư duy và chính sách của Nghị quyết số 10-NQ/TW so với các chủ trương trước đây về thu hút và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài?
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Theo tôi, điểm mới đầu tiên của Nghị quyết số 10-NQ/TW là, đây là nghị quyết về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chứ không chỉ là nghị quyết về đầu tư nước ngoài.
Trước đây, khi đề cập đến đầu tư nước ngoài, chúng ta chủ yếu nói đến đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Lần này, phạm vi được mở rộng hơn, bao quát toàn bộ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, trong đó có hoạt động góp vốn, mua cổ phần tại doanh nghiệp Việt Nam. Đây là sự thay đổi quan trọng về cách tiếp cận cũng như phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết.

Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp FDI sẽ không được áp dụng ngay từ đầu mà được thực hiện trên cơ sở kết quả triển khai các cam kết. Ảnh: Internet
Điểm mới thứ hai là sự đổi mới trong tư duy xây dựng chính sách. Nghị quyết xác định rất rõ yêu cầu chuyển từ ưu đãi đầu tư chủ yếu thông qua chính sách thuế sang cơ chế hỗ trợ đầu tư và xây dựng hệ sinh thái phát triển.
Đây là một nội dung rất quan trọng. Trước đây, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài từng được ví như “nền kinh tế trong nền kinh tế” bởi mức độ liên kết và lan tỏa với khu vực doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.
Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2019 cũng đã đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Tuy nhiên, theo tôi, kết quả đạt được vẫn còn hạn chế bởi chúng ta còn thiếu những công cụ đòn bẩy đủ mạnh, hay nói cách khác là những 'liều thuốc' đủ mạnh và phù hợp để điều chỉnh hành vi, tạo động lực cho doanh nghiệp thực hiện các cam kết về nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước và gắn hoạt động đầu tư với chuyển giao công nghệ.
Điểm đột phá của Nghị quyết số 10-NQ/TW chính là chuyển sang cơ chế ưu đãi và hỗ trợ đầu tư dựa trên kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư. Điều đó có nghĩa, doanh nghiệp muốn được hưởng mức ưu đãi hoặc hỗ trợ cao hơn thì phải có những cam kết cụ thể và thực chất.
Điểm khác biệt so với trước đây là các chính sách hỗ trợ không được áp dụng ngay từ đầu mà được thực hiện trên cơ sở kết quả triển khai các cam kết. Cách tiếp cận này sẽ tạo động lực để các tập đoàn lớn sở hữu công nghệ nguồn cân nhắc việc chuyển giao công nghệ, mở rộng hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam nhằm đổi lấy những chính sách hỗ trợ và ưu đãi phù hợp từ Nhà nước.
Đổi mới định hướng thu hút đầu tư nước ngoài:
Xây dựng cơ chế ưu đãi vượt trội, cạnh tranh, gắn với yêu cầu kết quả thực hiện; quy trình thủ tục đầu tư đặc thù, riêng biệt; cơ chế xử lý các khó khăn, vướng mắc tập trung, nhanh, linh hoạt.
Khuyến khích, yêu cầu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, phát triển, đào tạo người Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số để được hưởng các ưu đãi đầu tư theo kết quả thực hiện. (Nghị quyết số 10-NQ/TW).
|
Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng có một điểm mới rất đáng chú ý là chủ trương kịp thời khen thưởng, biểu dương và tôn vinh các doanh nghiệp có thành tích trong chuyển giao công nghệ, có tỷ lệ nội địa hóa cao, có tính lan tỏa mạnh và có nhiều đóng góp trong việc hỗ trợ doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Đồng thời, Nghị quyết khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nước ngoài xây dựng hệ sinh thái đầu tư, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.
Như vậy, doanh nghiệp FDI không chỉ được ghi nhận ở đóng góp đối với tăng trưởng kinh tế mà còn được đánh giá cao khi tạo ra những giá trị lan tỏa thực chất cho khu vực doanh nghiệp trong nước.
Theo tôi, đây là một tư duy rất mới. Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, việc được xã hội ghi nhận, tôn vinh về những đóng góp đối với nền kinh tế cũng góp phần nâng cao uy tín, giá trị thương hiệu và tạo thêm động lực để tiếp tục đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Với tư cách là người nhiều năm làm việc trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, tôi đánh giá rất cao những đổi mới này và cho rằng cần sớm được thể chế hóa trong quá trình triển khai Nghị quyết thời gian tới.
Phóng viên: Ông vừa nhấn mạnh yêu cầu cần sớm thể chế hóa những đổi mới của Nghị quyết số 10-NQ/TW. Theo ông, quá trình này cần được triển khai như thế nào để các chủ trương của Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống?
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Để Nghị quyết số 10-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống, theo tôi, yêu cầu quan trọng nhất và cũng cấp bách nhất là phải thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Nghị quyết, tức là chuyển những định hướng của Đảng thành các chính sách và quy định pháp luật cụ thể.
Đây cũng là điều mà các nhà đầu tư nước ngoài đang rất trông đợi. Mặc dù thời gian qua Chính phủ đã rất quyết liệt trong việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, song trên thực tế, những vướng mắc về pháp lý trong hoạt động đầu tư, kinh doanh vẫn còn rất lớn.
Nhiều vướng mắc đã tồn tại trong thời gian dài, xuất phát từ việc một số quy định pháp luật chưa thống nhất, thiếu rõ ràng, dẫn đến cách hiểu và cách áp dụng khác nhau giữa các cơ quan thực thi. Vì vậy, trong quá trình thể chế hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW, một yêu cầu rất quan trọng là phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và nhất quán của hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh.
Bên cạnh đó, quá trình thể chế hóa cũng cần tính đến những thay đổi của môi trường đầu tư quốc tế và các cam kết mới mà Việt Nam đã tham gia, như quy định về thuế tối thiểu toàn cầu của OECD hay các yêu cầu ngày càng cao về minh bạch chính sách thuế. Đây đều là những vấn đề cần được nội luật hóa đầy đủ nhằm khắc phục các điểm nghẽn về pháp lý và tạo lập môi trường đầu tư ổn định, minh bạch hơn.

Củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào triển vọng đầu tư dài hạn tại Việt Nam
Theo tôi, đây không phải là công việc đơn giản bởi hoạt động đầu tư liên quan đến rất nhiều luật khác nhau, từ Luật Đầu tư, pháp luật về thuế, hải quan, sở hữu trí tuệ...
Đồng thời, quá trình này vừa phải xử lý những tồn tại kéo dài nhiều năm, vừa phải cập nhật các yêu cầu mới của môi trường đầu tư quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Vì vậy, theo tôi, cần có một bộ phận chuyên trách dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ để rà soát toàn diện hệ thống pháp luật, đề xuất sửa đổi các quy định còn chồng chéo, thiếu thống nhất và tổ chức thể chế hóa các nội dung của Nghị quyết một cách đồng bộ.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng, chỉ khi Nghị quyết số 10-NQ/TW được thể chế hóa đầy đủ, đúng tinh thần và đáp ứng các yêu cầu mà Nghị quyết đã đặt ra thì Nghị quyết mới thực sự đi vào cuộc sống. Chừng nào quá trình thể chế hóa còn chậm, chất lượng cải cách pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thì việc đưa Nghị quyết vào thực tiễn sẽ còn rất nhiều khó khăn.
|
"Nghị quyết số 10-NQ/TW là văn kiện có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư của Việt Nam.
Tuy nhiên, để những thông điệp của Nghị quyết thực sự trở thành hiện thực, điều quyết định vẫn là chất lượng và tiến độ của quá trình thể chế hóa".
(TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE).
|
Bên cạnh đó, tôi cho rằng cần phát huy vai trò của các chuyên gia độc lập và các hiệp hội nghề nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách, bởi đây là những tổ chức gần gũi với cộng đồng doanh nghiệp và có điều kiện phản ánh sát nhất những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.
Đồng thời, cần có cơ chế đánh giá giữa kỳ kết quả thực hiện Nghị quyết và chế tài đối với các tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm hoặc làm chậm quá trình triển khai. Chỉ khi được thể chế hóa đầy đủ, đúng tinh thần của Nghị quyết, các mục tiêu đặt ra mới thực sự đi vào cuộc sống.
Phóng viên: Nghị quyết số 10-NQ/TW đã gửi đi thông điệp mạnh mẽ về việc đồng hành với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo ông, để thông điệp đó trở thành hiện thực, vai trò của Chính phủ và các địa phương cần được xác lập như thế nào?
TS. Nguyễn Anh Tuấn: Tổng Bí thư đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, chỉ có hành động mới biến mục tiêu thành hiện thực. Theo tinh thần đó, để Nghị quyết số 10-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống thì mỗi chủ thể phải thực hiện đầy đủ vai trò và trách nhiệm của mình.
Trước hết, về cải cách thể chế, đây là trách nhiệm của Chính phủ và Quốc hội. Các quan điểm, chủ trương của Nghị quyết phải được thể chế hóa thành các quy định pháp luật cụ thể. Quốc hội là cơ quan ban hành luật, còn Chính phủ có trách nhiệm xây dựng, hoàn thiện các dự án luật để trình Quốc hội xem xét, thông qua.
Đối với công tác xúc tiến đầu tư, theo phân cấp hiện nay, trách nhiệm chủ yếu thuộc về chính quyền địa phương. Mỗi địa phương cần chủ động xây dựng danh mục các dự án trọng điểm phù hợp với định hướng phát triển của mình, đồng thời lựa chọn và thu hút các nhà đầu tư chiến lược phù hợp với từng dự án.
Một nội dung rất quan trọng của Nghị quyết số 10-NQ/TW là chuyển từ ưu đãi đầu tư theo đầu vào sang ưu đãi và hỗ trợ dựa trên kết quả thực hiện các cam kết của nhà đầu tư. Vì vậy, cơ quan quản lý đầu tư, cơ quan tài chính và chính quyền địa phương phải có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá khách quan việc thực hiện các cam kết của doanh nghiệp, làm cơ sở để quyết định việc doanh nghiệp có được hưởng các chính sách ưu đãi và hỗ trợ theo đúng tinh thần của Nghị quyết hay không.
Như tôi đã nói, Nghị quyết số 10-NQ/TW là văn kiện có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng, góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư của Việt Nam.
Tuy nhiên, để những thông điệp của Nghị quyết thực sự trở thành hiện thực, điều quyết định vẫn là chất lượng và tiến độ của quá trình thể chế hóa. Không chỉ cần thể chế hóa, mà phải thể chế hóa đúng tinh thần của Nghị quyết, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
Chỉ khi đáp ứng đồng thời hai yêu cầu đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW mới có thể nhanh chóng phát huy hiệu quả, tạo dựng niềm tin lâu dài đối với các nhà đầu tư và đóng góp thiết thực cho mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!