Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2026-2030 Việt Nam cần khoảng 136 tỷ USD để phát triển nguồn và lưới điện, bình quân hơn 27 tỷ USD mỗi năm. Đây là quy mô đầu tư rất lớn nên khu vực tư nhân và dòng vốn quốc tế sẽ giữ vai trò quyết định trong quá trình phát triển ngành điện.

Các đại biểu tham gia phiên tọa đàm. Ảnh: BTC
Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng
Phát biểu tại hội thảo “An ninh năng lượng đến 2030: Khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng” diễn ra ngày 17/7 tại TP. HCM, PGS. TS. Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương nhấn mạnh, an ninh năng lượng là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu.
Theo ông Đạt, Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã định hướng xây dựng hệ thống năng lượng hiện đại, tự chủ và bền vững, tạo nền tảng cho phát triển các ngành công nghệ chiến lược, thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng nền kinh tế tri thức.
Những lĩnh vực được ưu tiên như trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu, bán dẫn, điện toán đám mây, công nghệ lượng tử, Internet vạn vật (IoT), công nghệ chuỗi khối (blockchain) hay siêu máy tính đều đòi hỏi nguồn điện ổn định, an toàn và có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn.

PGS.TS. Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu tại hội thảo. Ảnh: BTC
Theo TS. Trần Văn Tùng, Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) ngành năng lượng Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức như nhu cầu điện tăng nhanh, yêu cầu chuyển dịch sang năng lượng xanh, biến động thị trường năng lượng thế giới và áp lực bảo đảm nguồn cung cho nền kinh tế số. Do nền kinh tế đang phát triển, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu và các ngành công nghệ cao đang kéo theo nhu cầu năng lượng rất lớn. Vì vậy, Việt Nam cần không chỉ tăng đầu tư mà còn đầu tư hiệu quả, có tầm nhìn dài hạn.
Ông Phan Quang Vinh, Phó Trưởng ban Kinh doanh Tổng Công ty Điện lực TP. HCM (EVNHCMC), cho biết sau khi sáp nhập Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TP. HCM tiếp tục là địa phương có nhu cầu sử dụng điện lớn nhất cả nước. Năm 2025, sản lượng điện thương phẩm đạt 56,1 tỷ kWh, công suất phụ tải cực đại 8.936 MW, phục vụ khoảng 3,91 triệu khách hàng. Đến năm 2030, sản lượng điện thương phẩm được dự báo đạt khoảng 75 tỷ kWh.
Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030, tổng công suất điện mặt trời mái nhà của TP. HCM có thể đạt khoảng 2.786 MW. Cùng với đó, Nghị định số 243/2026/NĐ-CP mở rộng đối tượng được phát triển điện mặt trời mái nhà, đơn giản hóa thủ tục và cho phép nhiều nhóm khách hàng bán phần điện dư lên lưới, tạo động lực thúc đẩy đầu tư.
Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư
Ở góc độ chính sách, GS.TS. Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh doanh (IBR), Đại học Kinh tế TP. HCM nhận định giai đoạn 2026-2030 sẽ là “cửa sổ cơ hội” để Việt Nam giải quyết những điểm nghẽn của ngành điện. Ông đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm gồm: cải cách thị trường điện theo hướng giá điện phản ánh tín hiệu thị trường, tái cơ cấu EVN và thúc đẩy cạnh tranh bán lẻ điện; duy trì chính sách ổn định để thu hút đầu tư và đẩy nhanh giải ngân các nguồn vốn quốc tế như JETP; đầu tư mạnh cho hạ tầng chiến lược gồm lưới điện, hệ thống lưu trữ năng lượng và các kho dự trữ LNG.
Theo GS.TS. Võ Xuân Vinh, 3 nhiệm vụ cần triển khai ngay trong giai đoạn 2026-2030 là cải cách giá điện theo cơ chế thị trường, tái cơ cấu EVN và khởi động dự án điện gió ngoài khơi của Việt Nam. Nếu tận dụng tốt giai đoạn này, Việt Nam sẽ vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch thành công sang nền kinh tế phát thải thấp.

GS.TS. Võ Xuân Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh doanh (IBR), thuộc Đại học Kinh tế TP. HCM. Ảnh: BTC
Đóng góp giải pháp, PGS.TS. Phạm Xuân Mai, Cố vấn cao cấp Kim Long Motor, cho rằng bảo đảm an ninh năng lượng đến năm 2030 đòi hỏi tư duy quản lý mới và sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Theo đó, quy hoạch năng lượng, giao thông và công nghiệp cần được tích hợp chặt chẽ; sớm hình thành thị trường phụ tải linh hoạt; áp dụng giá điện theo thời gian sử dụng; cho phép doanh nghiệp tham gia thị trường dịch vụ phụ trợ và thí điểm cơ chế sạc hai chiều.
Theo ông Mai, những chính sách này sẽ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ lưu trữ thay vì chỉ tiêu thụ điện, qua đó mở đường cho các khu công nghiệp vận hành lưới điện thông minh với hiệu quả kinh tế cao.
Bên cạnh đó, PGS.TS. Phạm Xuân Mai đề xuất ưu tiên sử dụng vốn đầu tư công để mua sắm phương tiện giao thông xanh nhằm tạo thị trường ban đầu, đồng thời đưa doanh nghiệp trong nước vào vị trí trung tâm của chuỗi giá trị. Thu hút đầu tư nước ngoài cũng cần gắn với chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực số và hợp tác nghiên cứu, phát triển.
Kết luận hội thảo, ông Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng năng lượng không nên chỉ được hiểu là huy động thêm vốn đầu tư. Quan trọng hơn là tạo sự cộng hưởng giữa thể chế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lực doanh nghiệp và hợp tác quốc tế. Khi các nguồn lực này được kết nối hiệu quả, hạ tầng năng lượng sẽ không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt mà còn tạo nền tảng cho các ngành công nghệ chiến lược, các ngành kinh tế mới và mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong tương lai.