Việt Nam đang chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang nâng cao chất lượng thể chế, đổi mới sáng tạo và liên kết doanh nghiệp nhằm thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao.

Việt Nam đang tái định hình chiến lược thu hút FDI. Ảnh: DN
Từ thu hút vốn đến thu hút năng lực
Sau gần bốn thập kỷ kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Lợi thế về chi phí lao động cạnh tranh, môi trường chính trị ổn định, mạng lưới hiệp định thương mại tự do ngày càng mở rộng cùng những cải thiện trong môi trường đầu tư đã góp phần đưa Việt Nam trở thành điểm đến quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Theo ông Richard Barnsley, Giám đốc Khối Ngân hàng Toàn cầu, Ngân hàng HSBC Việt Nam, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hiện đóng góp khoảng 3/4 giá trị xuất khẩu của Việt Nam. FDI tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong quá trình chuyển đổi kinh tế của Việt Nam thông qua tạo việc làm, mở rộng xuất khẩu và cải thiện mức sống.
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), đến cuối tháng 7, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn góp, mua cổ phần đạt 6,58 tỷ USD với 1.815 lượt, tăng 61,6%; vốn FDI thực hiện ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% và là mức cao nhất của 7 tháng trong 5 năm qua. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 12,55 tỷ USD, chiếm 82,6% tổng vốn FDI thực hiện.
Tuy nhiên, theo ông Richard Barnsley, mô hình thu hút FDI để thúc đẩy xuất khẩu cũng bộc lộ những giới hạn nhất định. Giai đoạn phát triển tiếp theo không chỉ đòi hỏi thu hút vốn đầu tư mà còn phải tạo ra và giữ lại giá trị lớn hơn từ dòng vốn đó. Định hướng này được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 8/6/2026, mở ra tầm nhìn mới về thu hút FDI trong giai đoạn được gọi là Đổi mới 2.0.
Giai đoạn 2025-2030, Việt Nam đặt mục tiêu thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký mới, giải ngân 150-200 tỷ USD, trong đó khoảng ba phần tư dòng vốn đến từ các nền kinh tế phát triển. Cùng với đó là mục tiêu đưa 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI và thu hút tối thiểu ba tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở khu vực hoặc trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.
Tạo sức hút cho FDI thế hệ mới
Bên cạnh việc xác định mục tiêu thu hút dòng vốn chất lượng cao, Nghị quyết số 10-NQ/TW cũng phản ánh sự thay đổi trong tư duy cạnh tranh thu hút đầu tư của Việt Nam. Theo các chuyên gia, các ưu đãi tài chính truyền thống đang dần kém hiệu quả khi nhiều quốc gia cùng hướng tới thu hút những dự án có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Trong bối cảnh đó, lợi thế về chi phí lao động không còn đủ để tạo khác biệt trong cạnh tranh thu hút đầu tư.
Các nhà đầu tư chiến lược ngày càng coi trọng chất lượng thể chế, khả năng dự báo chính sách, chất lượng nguồn nhân lực và tốc độ cải cách. Năng suất, tự động hóa và đổi mới sáng tạo đang trở thành những yếu tố quan trọng hơn chi phí lao động.
Trong bối cảnh địa chính trị còn nhiều bất định, thương mại toàn cầu thay đổi và trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, doanh nghiệp ngày càng ưu tiên những điểm đến có khả năng chống chịu, tính dự báo cao và được dẫn dắt bởi đổi mới. Theo ông Barnsley, thể chế vững mạnh đang trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh giá trị nhất của mỗi quốc gia.
Ở góc độ doanh nghiệp châu Âu, ông Mickaël Driol cho rằng FDI tại châu Á đang thay đổi cách lựa chọn điểm đến. Nhà đầu tư không còn chỉ tìm kiếm hạ tầng hay chi phí nhân công thấp mà quan tâm nhiều hơn đến khả năng dự báo thời gian, chi phí carbon và kiểm soát rủi ro vận hành.
Xu hướng phát triển bền vững cũng làm thay đổi tiêu chí đánh giá dự án. Nhà đầu tư yêu cầu báo cáo phát thải được chứng thực, cam kết về nguồn năng lượng xanh, đồng thời xem xét khả năng cung cấp điện, dữ liệu phát thải có thể kiểm toán, năng lực nhà cung cấp nội địa và hiệu quả thực thi của chính quyền địa phương.
Theo ông Mickaël Driol, chi phí vẫn là một yếu tố quan trọng, nhưng sự minh bạch trong thực thi và tính ổn định của nguồn năng lượng mới là những yếu tố quyết định mức chiết khấu mà nhà đầu tư áp dụng đối với dòng tiền tương lai của dự án. Một sự chậm trễ vài tháng trong tiến độ sản xuất thường gây ra thiệt hại tài chính lớn hơn cả việc tăng lương cho người lao động.
Theo đó, việc Nghị quyết số 10-NQ/TW ưu tiên cải cách thể chế, hỗ trợ dựa trên kết quả, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, đồng thời nâng cao năng lực nhà cung ứng trong nước thông qua đào tạo, quản lý chất lượng và cải thiện quản trị được đánh giá phù hợp với yêu cầu của dòng vốn FDI thế hệ mới. Đây cũng là nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và gia tăng giá trị từ khu vực đầu tư nước ngoài.